Pháp sư

[TẬP 94]: Buông Xuống Không Phải Buông Xuống Trên Mặt Sự, Phải Buông Xuống Nơi Tâm.


Chư vị đồng học!

      Xin hãy xem đoạn văn kế tiếp:

 

      Nhiên tuy vị Di Đà nhiếp thủ chúng sanh vãng sanh, yếu tín duy thị tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao, cứu cánh phi tùng ngoại đắc. Như thị tín giả, thị vi chân tín.

      然雖謂彌陀攝取眾生往生。要信唯是隨心自現。感應道交。究竟非從外得。如是信者。是為真信。

      (Dù nói là Di Đà nhiếp thủ chúng sanh vãng sanh, phải tin đấy chỉ

là tùy tâm  tự hiện, cảm ứng  đạo giao, rốt  ráo chẳng  phải do  từ bên

ngoài mà có. Tin như thế mới là chân tín).

 

      Đến đây là hết một đoạn. Đoạn này dạy chúng ta: Không những tin vào Sự mà còn phải tin nơi Lý. Vì sao? Đấy mới là chân tín. Tin tưởng Sự nhưng không biết đến Lý thì có thể vãng sanh hay không? Có thể vãng sanh! Sanh vào Phàm Thánh Đồng Cư độ. Nếu quý vị hiểu được đạo lý này thì phẩm vị càng cao hơn. Quả thật có chuyện ấy, Lý cũng là chân, Lý lẫn Sự đều là chân. Chớ nên tin Lý phế Sự, nếu vậy là hỏng rồi, chẳng bằng tin Sự không hiểu Lý mà thực sự được vãng sanh. Nếu tin vào Lý mà coi thường Sự, sẽ chẳng thể vãng sanh. Đấy mới gọi là Chân Tín!

      Dẫu nói đến chuyện A Di Đà Phật tiếp dẫn vãng sanh (chúng ta gọi “nhiếp thủ chúng sanh” là tiếp dẫn, hay tiếp dẫn vãng sanh) “yếu tín duy thị tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao” (phải tin đấy chỉ là tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao). “Tùy tâm tự hiện” là Lý, Kinh Hoa Nghiêm giảng hết thảy pháp một cách rốt ráo viên mãn, ngay cả hư không, pháp giới, cõi nước, chúng sanh chỉ do Tâm hiện. Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật cũng chẳng lìa tự tâm. Vì vậy, các đồng học tu Tịnh Độ cũng thường nghe nói “duy tâm Tịnh Độ, Tự Tánh Di Đà”. Tách rời tâm tánh thì Di Đà lẫn Tịnh Độ đều không có, đều chỉ do Tâm hiện, chỉ do Thức biến. Đó là chân lý. Do vậy, hễ chúng ta cầu, tức là có Cảm.

Chúng ta hy vọng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân cận A Di Đà Phật để làm gì vậy? Hết thảy chư Phật dạy chúng ta: Chỉ có sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là hoàn cảnh tu học tốt đẹp nhất; thân cận A Di Đà Phật là thân cận vị thầy tốt nhất. Đã có thầy giỏi lại có hoàn cảnh tu học tốt nhất, ở nơi đó chúng ta có thể đoạn phiền não, có thể thành tựu pháp môn, có thể viên thành Phật đạo. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm những chuyện này. Thực hiện tốt những chuyện này rồi lại thệ nguyện độ vô biên chúng sanh trọn khắp pháp giới, hư không giới; chúng ta muốn làm chuyện này chứ không nhằm chuyện gì khác. Muốn viên thành Phật đạo, muốn tùy theo từng loài mà hóa thân, rộng độ chúng sanh thì không về thế giới Cực Lạc sẽ chẳng được. Không sanh về thế giới Cực Lạc sẽ không có khả năng [làm được những việc ấy].

      Không sanh về thế giới Cực Lạc, bất luận tu một pháp môn nào, tu đến thực sự thành công quả thật thời gian rất dài, vô lượng kiếp, A-tăng-kỳ kiếp, rốt cuộc tu đến thế giới Hoa Tạng. Đến thế giới Hoa Tạng gặp Văn Thù và Phổ Hiền, các Ngài vẫn bảo quý vị niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Quý vị hãy nghĩ đi, như vậy nghĩa là sao? Cuối cùng vẫn phải trở về Tịnh Độ, sao bây giờ không về đó đi? Nếu đi ngay từ bây giờ, giảm bớt được bao nhiêu chuyện, giảm bao nhiêu là thời gian! Thành tựu mau chóng! Nếu chúng ta hiểu được chân tướng sự thật này, quả thật là “tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao”, đấy chính là tin mình có phần được vãng sanh. Quý vị có biết Tây Phương Tịnh Độ của A Di Đà Phật có liên quan với chúng ta đến ngần nào hay không? Đều do chính tâm tánh của chúng ta biến hiện. Thế nhưng chúng ta mê mất tâm tánh của chính mình, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể thực sự minh tâm kiến tánh; đấy mới là thực sự thấy thật rõ chân tướng.

      “Cứu cánh phi tùng ngoại đắc” (rốt ráo chẳng phải do từ bên ngoài mà được), bên ngoài không có gì hết, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm. “Như thị tín giả” (tin như thế) là chân tín. Tin Phật, mọi người chúng ta tin Phật, nhưng nói thật ra là mê tín! Vì sao gọi là mê tín? Không biết Phật là gì, chuyện gì cũng không biết cũng cứ tin tưởng, cũng đến quy y, vì thế thực sự là mê tín. Tốt hơn một chút trong ấy là trong mê tín lại có điều kiện, có điều kiện gì vậy? Thực sự tin tưởng Thích Ca Mâu Ni Phật là bậc trí huệ, là người có đại đức hạnh, đức Phật chẳng lừa dối chúng ta. Chúng tôi thường nói là tin tưởng vào nhân cách của Thích Ca Mâu Ni Phật, tin tưởng đức Phật là người tốt, Ngài chẳng lừa dối chúng ta, lời Ngài nói nhất định là đúng. Như thế gọi là Chánh Tín, tức là lòng tin có lý luận làm cơ sở, chứ không theo Phật mù quáng.

Càng sâu hơn một tầng nữa là thân cận Phật đã lâu, đối với những lý luận sự lý trong giáo nghĩa kinh Phật đã đạt được trình độ thông hiểu kha khá, đó là Chánh Tín, Chánh Tín ở mức độ cao, đến mực này mới gọi là “chân tín”; nhưng lòng chân tín ấy vẫn chưa phải thực sự là chân, mà là Tương Tự Chân. Chúng ta tin “tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao”, hay còn có thể nói là “chỉ do tâm hiện, chỉ do thức biến”. Chúng ta còn chưa chứng đắc, nếu thực sự chứng đắc sẽ được tự tại. Muốn chứng đắc trong thế gian này khó lắm, rất ư là khó! Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ chứng đắc, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới mới là chân tín thực sự. Hiện tại chúng ta chỉ là tương tự chân tín, đã hiểu rõ về Lý, cũng giống như các nhà khoa học hiện thời vậy.

Khi trước, Chung cư sĩ đã đến báo cáo cùng chúng ta: Gần đây nhất, các nhà khoa học phát hiện ba điều. Phát hiện thứ nhất là không gian và thời gian dưới một điều kiện nào đó sẽ không tồn tại. Điều này kinh Phật đã nói đến rồi, nay họ mới tin. Tin là tin trên mặt Lý, chứ về mặt Sự chưa từng thấy. Phát hiện thứ hai là gì? Có từ trong Không mà ra, trong Không sanh ra Có, Không có thể sanh ra Có, Có lại trở về Không. Đây cũng là phát hiện trên mặt Lý, họ tin tưởng; chứ trên mặt Sự, chưa có cách gì chứng minh được. Thứ ba là khởi nguyên của vũ trụ, hiện tại khởi nguyên ấy là nhất thời đốn hiện, đây cũng là tin tưởng trên mặt Lý. Những điều này kinh Phật đều đã từng nói đến, nhưng không phải là cảnh giới của chúng ta vì mình chưa chứng đắc. Vì thế, niềm tin ấy cũng có thể nói là chân tín, nhưng chưa phải là chân tín chân chánh, quả thật có lý luận cao sâu làm căn cứ. Chúng ta tin tưởng lời giáo huấn của thiền sư Trung Phong; tin tưởng sâu xa không nghi sẽ quyết định vãng sanh. Tiếp theo, Ngài nói:

 

      Tín nhi vô Hạnh, tức bất thành kỳ tín.

      信而無行。即不成其信。

      (Tín nhưng thiếu Hạnh thì tín ấy chẳng thành).

 

      Vì Tín - Nguyện - Hạnh tuy một mà ba, tuy ba nhưng một, có được một thì nhất định phải có cả ba. Nếu thiếu một điều, lòng tin của quý vị không phải là chân tín, mà Hạnh cũng chẳng phải là chân hạnh. Hễ quý vị có Tín thì nhất định phải có Nguyện, có Hạnh. Có Hạnh nhất định có Nguyện, nhất định có Tín. Một mà ba, ba nhưng một, như ba chân của cái đảnh, chẳng thể thiếu được một. Chúng ta muốn biết một cá nhân tin hay không tin thì hãy dựa vào đây để xét. Do vậy, không có Hạnh thì “bất thành kỳ tín” (tín ấy chẳng thành).

 

      Hạnh giả, Lăng Nghiêm kinh vân: “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai”.

      行者楞嚴經云。都攝六根。淨念相繼。不假方便。自得心開。

      (Hạnh thì như kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai”).

 

      Những điều được giảng trong kinh Vô Lượng Thọ từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi bảy chính là tiêu chuẩn thấp nhất của nhiễm và tịnh, “tịnh niệm tiếp nối”! Chuyển nhiễm thành tịnh như thế nào? “Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối), Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta như thế. Bí quyết tu hành của Tịnh Tông chính là mười sáu chữ này, “bất giả phương tiện, tự đắc tân khai” (chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai), [nghĩa là] chẳng cần phải nhờ vào phương pháp nào khác hỗ trợ, thực sự đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, chẳng cần phải thêm vào loại Thiền nào hay thêm vào chú nào, không cần thêm gì vào hết, chỉ là “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Hiệu quả là “tự đắc tâm khai” (tâm tự khai ngộ). “Tự đắc tâm khai” là tâm khai ý giải, Thiền Tông gọi chuyện này là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, có cùng một cảnh giới, tức là một câu danh hiệu niệm đến mức nhất tâm bất loạn.

      Công phu tiến triển, tất nhiên là công phu thành phiến, Sự nhất tâm bất loạn, Lý nhất tâm bất loạn, mấu chốt ở chỗ quý vị có thể nhiếp trọn sáu căn hay không? Hiện tại, ngay cả công phu thành phiến mà chúng ta cũng không đạt được, gốc bệnh nằm đâu? Chẳng thể nhiếp trọn sáu căn. Mắt luôn chạy theo sắc bên ngoài, tai thường chạy theo tiếng bên ngoài, sáu căn thường chạy theo cảnh giới sáu trần bên ngoài, không thâu hồi lại. Nhiếp trọn sáu căn chính là như Mạnh phu tử đã nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học vấn không có gì khác cả, cốt sao thâu hồi cái tâm đã buông lung mà thôi). Quý vị buông thả cái tâm ra ngoài thì làm sao có thể thâu hồi được? Nhiếp trọn sáu căn chính là thâu hồi. Thâu hồi mắt từ nơi sắc, thâu hồi tai từ nơi tiếng, hễ thâu hồi được thì quý vị sẽ an tịnh, sẽ định. Quý vị không thâu hồi được thì sẽ chịu ảnh hưởng của cảnh giới bên ngoài. Nói dễ hiểu nhất theo cách bây giờ là sáu căn không còn chịu ảnh hưởng của cảnh giới sáu trần bên ngoài nữa thì quý vị mới có thể giữ được tịnh niệm tiếp nối!

      Nhĩ căn lanh lợi nhất, nghe người ta khen ngợi, vui sướng hết sức; nghe người ta hủy báng, chửi rủa mình mấy câu, nóng giận mấy ngày. Làm thế nào đây? Ấy chính là quý vị không có cách gì nhiếp trọn sáu căn, tâm chưa được thanh tịnh. Thực sự thâu hồi [cái tâm buông lung] thì thấy sắc tuyệt đối chẳng chịu ảnh hưởng của Sắc pháp, nghe tiếng cũng quyết định chẳng bị ảnh hưởng bởi Thanh trần, tâm vĩnh viễn trong Định. Mũi ngửi mùi thơm, thơm hay thối hệt như nhau; lưỡi nếm vị, năm vị như một, tức là như nay ta thường nói: “Không có ngon - dở, không có xấu - tốt!” Tâm được bình đẳng, tâm được thanh tịnh.

      Mọi người chúng ta niệm Phật, nói đơn giản là “tịnh niệm”, niệm là niệm A Di Đà Phật, “tịnh” là không có hoài nghi, không xen tạp, đấy là Tịnh. Không hoài nghi, không xen tạp, tiếp nối không gián đoạn, không xen tạp là công phu thực sự. Phàm phu chẳng thể thành tựu công phu ấy vì không có chân tín, có nghi, có xen tạp, xen tạp với mức độ lớn, khiến cho công phu niệm Phật hoàn toàn bị phá hoại. Kinh Lăng Nghiêm nói như vậy đó, còn như kinh A Di Đà giảng thì chúng tôi đã trình bày rồi, chúng ta hãy đọc một lần là được:

     

      A Di Đà kinh vân: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nãi chí thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ”.

  阿彌陀經云。若有善男子。善女人。聞說阿彌陀佛。執持名號。若一日。若二日。乃至七日。一心不亂。其人臨命終時。阿彌陀佛與諸聖眾。現在其前。是人終時。心不顛倒。即得往生阿彌陀佛極樂國土。

      (Kinh A Di Đà nói: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, nghe nói đến A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu hoặc một ngày, hoặc hai ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn. Người ấy lúc mạng chung, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện ở đằng trước. Người ấy khi mạng chung, tâm không điên đảo, liền được sanh về cõi nước Cực Lạc của A Di Đà Phật”)

 

      Đoạn này trong phần trên chúng tôi đã giảng rồi, khi giảng kinh đã nói rồi.

 

      Như thị hành giả thị danh Chánh Hạnh.

      如是行者。是名正行。

      (Hành như thế thì gọi là Chánh Hạnh).

 

      Quý vị bình thường niệm Phật là tương ứng với kinh này, tương ứng với kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm giảng rất sâu, kinh Di Đà giảng trên mặt Sự. Giảng trên mặt Sự, tương ứng với kinh Lăng Nghiêm ở chỗ nào? Chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn. “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” là Nhân, tu nhân; còn Quả là nhất tâm bất loạn. Như vậy, có nhất tâm bất loạn thì đương nhiên có nhiếp trọn sáu căn và tịnh niệm tiếp nối; có nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đương nhiên có cái quả nhất tâm bất loạn, nhân quả tương ứng. Hai bộ kinh này nói khác nhau nhưng cùng một công dụng. Tu hành như thế mới gọi là Chánh Hạnh.

      Đường chủ Niệm Phật Đường thường ra rả câu Khẩu Đầu Thiền, chúng ta nói câu ấy là Khẩu Đầu Thiền vì thời thời khắc khắc thường kêu gào: “Phóng hạ thân tâm thế giới, đề khởi chánh niệm” (Buông thân tâm, thế giới xuống, dấy lên chánh niệm), nói như vậy đó. Nhiếp trọn sáu căn là buông thân tâm, thế giới xuống, chớ có phan duyên. Mắt chẳng phan duyên theo sắc, tai chẳng phan duyên theo tiếng, mũi không phan duyên theo hương, lưỡi không phan duyên theo vị, thân không phan duyên theo xúc, ý không phan duyên theo pháp. Thâu hồi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại, chẳng hướng ra ngoài phan duyên, tịnh niệm tiếp nối, chẳng nhiễm mảy trần. Lúc ấy, niệm một câu A Di Đà Phật bèn tương ứng, một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật. Tương ứng là tương ứng cùng nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn chính là Phật. Tiếp đó, lại nói:

 

      Hạnh nhi vô nguyện, tức bất thành kỳ Hạnh.

      行而無願。即不成其行。

      (Hạnh nhưng không có nguyện thì Hạnh chẳng thành).

 

      Điều này rất trọng yếu, quý vị thấy đó: Không có Nguyện là không được! Nguyện là gì?

 

      Nguyện giả, yếu dữ A Di Đà Phật tứ thập bát nguyện, nguyện nguyện tương ứng, thị vi đại nguyện dã.

      願者要與阿彌陀佛。四十八願。願願相應。是為大願也。

      (Nguyện thì phải tương ứng với bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, phải tương ứng với từng nguyện một. Đấy là đại nguyện vậy).

 

      Ở đây quan trọng nhất là “tứ thập bát nguyện, nguyện nguyện tương ứng”. Có vậy, quý vị mới hiểu khi Tịnh Tông Học Hội thành lập, vì sao chúng tôi lấy kinh văn phẩm thứ sáu của kinh Vô Lượng Thọ làm khóa tụng buổi sáng là vì ý nghĩa này. Tịnh Tông học nhân khởi tâm động niệm đều phải ứng với bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng tương ứng thì chắc chắn quý vị được vãng sanh, quyết định không có vấn đề gì cả! Vì thế, tôi thường thường khuyến khích mọi người đối với những người hiểu lầm ý nghĩa Bổn Nguyện, ta phải cảnh tỉnh cho họ không hiểu lầm. Hiểu lầm sẽ phí uổng một đời này, đến cuối cùng không thể vãng sanh được. Nếu quý vị chỉ trì mỗi một mình nguyện thứ mười tám, các nguyện khác không cần đến thì không được rồi!

      Tổ sư nói bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng tương ứng, nhưng quý vị chỉ tương ứng với một nguyện là không được rồi! Bất cứ một nguyện nào cũng bao quát bốn mươi bảy nguyện kia. Thiếu một điều thì nguyện ấy không viên mãn. Bốn mươi tám nguyện, các nguyện dung nhiếp lẫn nhau, bất cứ một nguyện nào cũng trọn đủ viên mãn bốn mươi tám nguyện. Chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, phải hiểu chân tướng sự thật này, ngàn muôn phần chẳng được hiểu lầm. Xưa nay tổ sư đại đức đề xướng Bổn Nguyện Niệm Phật không sai vì mỗi một nguyện đều nhiếp hết thảy nguyện. Đề xướng lấy nguyện thứ mười tám làm trung tâm thì không sai, nguyện thứ mười tám bao hàm bốn mươi bảy nguyện kia. Nguyện nguyện tương ứng, nguyện nguyện viên mãn, đó gọi là “đại nguyện”. Tổ sư nói không sai, con người chúng ta hiện thời hiểu sai ý nghĩa; nhưng không hiểu ý nghĩa lời dạy của Như Lai, không hiểu ý tứ của tổ sư đại đức; nói thật ra, người thực sự hiểu được cũng không nhiều lắm!

     

      Tín - Hạnh - Nguyện tam, như đảnh tam túc, khuyết nhất bất khả.

信行願三。如鼎三足。缺一不可。

      (Tín - Hạnh - Nguyện ba điều, như ba chân của cái đảnh, chẳng thể thiếu một).

 

      Câu này hết sức là quan trọng! Đây chính là điều kiện để vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quý vị phải trọn đủ Tín - Nguyện - Hạnh, trong Tín có Nguyện, Hạnh. Trong Nguyện có Hạnh, Tín. Trong Hạnh có Tín, Nguyện, dung nhiếp lẫn nhau, quyết định chẳng thể đứng riêng lẻ được. “Như đảnh tam túc” (như ba chân của cái đảnh), khuyết một chân thì đảnh không đứng vững được, phải đổ nhào. Điều này chứng tỏ, thiếu một trong ba điều kiện sẽ không thể vãng sanh được, nhất định phải hiểu chân tướng sự thật này! Tiếp theo, Ngài lại khuyên thính chúng, thính chúng ở đây là các quỷ thần, bảo chúng quỷ thần mà cũng là bảo đại chúng hiện tiền chúng ta:

 

      Kim nhĩ vong linh đương tri: Hiện tiền nhất niệm, bổn tự viên thường.

今爾亡靈當知現前一念。本自圓常。

      (Nay vong linh nên biết: Một niệm hiện tiền vốn tự viên mãn, thường

hằng).

 

      Quý vị hãy nên biết, quỷ thần cần nên biết thì chúng ta càng phải nên biết. Một niệm hiện tiền của chúng ta là viên mãn, vì sao [hiện thời niệm ấy] không viên mãn? Là vì chính mình có vọng tưởng, có phiền não, khiến cho tánh đức vốn sẵn viên mãn nơi Tự Tánh bị phá hoại, chướng ngại. Chúng sanh trong lục đạo không ai là chẳng như thế.

 

      Tín - Hạnh - Nguyện: Nguyên thị tự kỷ bổn lai cụ hữu. Như thị tánh đức.

      信行願。原是自己本來具有。如是性德。

      (Tín - Hạnh - Nguyện: Nguyên chính mình vốn sẵn đủ. Tánh đức như thế).

 

      Nói cách khác, Tín - Nguyện - Hạnh là đức năng sẵn có của tự tánh, chẳng phải đến từ bên ngoài. Hiện tại nhờ chư Phật Như Lai giáo huấn, tổ sư đại đức chỉ dạy:

 

      Kim giả đản thị bổn tánh quang minh hiển phát nhĩ.

今者但是本性光明顯發耳。

      (Nay chỉ là quang minh của bổn tánh tỏ lộ mà thôi).

     

      Tín - Hạnh - Nguyện là quang minh của bổn tánh, vốn sẵn đầy đủ nơi bản tánh. Vấn đề hiện thời là gì? Phật, Bồ Tát giáo huấn, tổ sư đại đức chỉ dạy, chúng ta nghe thấy, có giác ngộ hay chăng? Thực sự giác ngộ chính là quang minh nơi tánh hiển phát. Tín phóng quang, Nguyện phóng quang, Hạnh phóng quang, con người hiện tại gọi quang ấy là “từ trường”, phát xuất rõ ràng, tức là phá mê khai ngộ! Quý ở chỗ “đương tri nhất niệm hiện tiền” (hãy nên biết một niệm hiện tiền), quý ở chỗ “đương tri” (nên biết), “biết” chính là thực sự giác ngộ. Nếu quý vị không biết thì vẫn là mê hoặc, vẫn y như cũ “mê chứkhông giác, tà chứ không chánh, nhiễm chứ không tịnh”. Chúng đều liên quan với nhau, hễ có một cái thì toàn bộ đều có, một mê thì hết thảy mê, một nhiễm thì hết thảy nhiễm, một tịnh thì hết thảy tịnh. Vì thế, quý vị nghe xong, phải thực sự quay đầu, phải giác ngộ. Tiếp đó là phần cuối cùng lúc kết thúc một thời Phật sự này, ta tán Phật:

 

18. Tán Phật tổng kết

 

      A Di Đà Phật,

      Vô thượng y vương,

      Nguy nguy kim tướng phóng hào quang,

      Khổ hải tác từ hàng,

      Cửu phẩm liên bang,

      Đồng nguyện vãng Tây Phương.

      阿彌陀佛。

無上醫王。

巍巍金相放毫光。

苦海作慈航。

九品蓮邦。

同願往西方。

      (A Di Đà Phật,

      Vô thượng y vương,

      Thân vàng vòi vọi phóng hào quang,

      Biển khổ thả thuyền từ,

      Cõi sen chín phẩm,

      Cùng nguyện về Tây Phương).

 

      Tán tụng: Phối hợp với âm nhạc, dùng tiết tấu ưu nhã xướng tụng lên, biểu thị chính mình đối với Phật - Pháp - Tăng Tam Bảo, đối với hết thảy chúng sanh lễ kính tán thán, cũng là cúng dường. Vì thế, nội dung của những kệ tán này hết sức phong phú. Từ xưa, các tổ sư đại đức nói: Trong hành pháp thì lễ kính, tán thán, sám hối, phát nguyện, không gì chẳng đầy đủ.

      “A Di Đà Phật, vô thượng y vương”, trị được hết thảy bệnh khổ của chúng sanh. Hết thảy chúng sanh có bệnh khổ gì? Luận theo lục đạo chúng sanh thì bệnh khổ là tham - sân - si - mạn. Tham - sân - si gọi là Tam Độc phiền não, không có gì độc địa hơn chúng. Trong thế gian này (tức là trong lục đạo), gốc rễ của tất cả hết thảy độc hại là tham - sân - si. Vì thế, nếu chuyển biến tham - sân - si thì cội rễ độc hại trong lục đạo sẽ bị diệt sạch. Bồ Tát cũng có bệnh, Bồ Tát bệnh gì vậy? Giải đãi! Vì thế, thiện căn duy nhất của Bồ Tát là Tinh Tấn. Nếu không biết tinh tấn thì là giải đãi. Chúng sanh trong chín pháp giới đều có bệnh, phải nhờ đến A Di Đà Phật là một vị y vương vô thượng chẩn đoán, trị liệu, giúp cho mọi người khôi phục sức khỏe.

      “Nguy nguy kim tướng phóng hào quang”: Câu này tán thán công

đức tự hành của A Di Đà Phật. Trong kinh giáo, đức Thế Tôn thường dạy chúng ta: Vì người khác diễn nói. Câu kệ này chính là diễn, A Di Đà Phật đang biểu diễn. Chúng sanh trong chín pháp giới đều có bệnh, A Di Đà Phật biểu diễn sự khỏe mạnh. “Phóng hào quang” là tướng bạch hào phóng quang. Chúng ta thường niệm bài kệ Tán Phật: “Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên”. “Nguy nguy kim tướng phóng hào quang” có nghĩa là như vậy đó.

      “Khổ hải tác từ hàng”; từ đây trở xuống là A Di Đà Phật phổ độ chúng sanh, thực hiện nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Vì thế, ba câu kệ cuối nói về công của Phật, tức công đức và quả đức. “Khổ hải tác từ hàng” (làm chiếc thuyền Từ trong biển khổ) là công đức, “cửu phẩm liên bang, đồng nguyện vãng Tây Phương” là quả đức: Cửu phẩm liên bang là quả đức, “đồng nguyện vãng Tây Phương”là trong ấy có nguyện vọng của chính mình. Nay chúng ta cũng phát ra bốn mươi tám nguyện, nay chúng ta thực sự tin tưởng có Tây Phương Cực Lạc thế giới, có chuyện A Di Đà Phật tiếp dẫn chúng sanh, tin rằng mình y chiếu kinh giáo, nghiêm túc nỗ lực phụng hành, ta sẽ nhất định được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, có cùng một thệ nguyện vãng sanh Tây Phương. Lời lẽ không nhiều, chỉ có mấy câu, nhưng nội dung hết sức phong phú. Sau đây lại quy mạng Liên Trì Hội Bồ Tát để tổng kết:

 

      Nam mô Liên Trì Hội Bồ Tát Ma Ha Tát.

      南無蓮池會菩薩摩訶薩。

 

      Nam Mô nghĩa là quy y, quy mạng. Chính mình bằng lòng quy mạng Liên Trì Hội Bồ Tát Ma Ha Tát, ta cũng thành một người trong số các vị Bồ Tát Ma Ha Tát thuộc Liên Trì Hội. Thời thứ nhất đến đây là viên mãn.

 

ĐỆ NHỊ THỜI

 

      Trong thời thứ hai, kinh A Di Đà, Vãng Sanh Chú đều là lập lại, nên chúng tôi khỏi cần giảng lại, nói một lần được rồi. Mở đầu thời thứ hai, nghi thức mở đầu nhất định cần phải có lễ kính xưng tán.

     

      Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.

南無蓮池海會佛菩薩。

     

      Ý nghĩa câu này trong phần trên đã nói rồi, đây chính là lễ kính, xưng tán. Tiếp đó là niệm Phật Thuyết A Di Đà Kinh, Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni Chú. Đoạn này chính là tụng kinh, niệm chú. Sau mỗi một đoạn, đều lễ kính xưng tán Liên Trì Hội Bồ Tát. Liên Trì Hội và Liên Trì Hải Hội có khác biệt, nói Liên Trì Hội là nói về thế giới Cực Lạc, Liên Trì Hải Hội bao gồm cả mười phương thế giới, tất cả đều tính gộp. Giống như nay chúng ta phát tâm, thậm chí chưa phát tâm, nghe nói đến danh hiệu A Di Đà Phật, trông thấy tượng A Di Đà Phật, in dấu vào A Lại Da Thức, đều được tính là Liên Trì Hải Hội. Bởi thế, Liên Trì Hải Hội rất lớn, trọn pháp giới, hư không giới. Niệm kinh chú xong, lại lễ kính xưng tán:

 

      Nam mô Liên Trì Hội Bồ Tát Ma Ha Tát.

      南無蓮池會菩薩摩訶薩。

 

19. Khai thị

 

      Tiếp theo là phần khai thị, theo thông lệ, trước phần khai thị có một bài kệ. Chúng ta hãy xem bài kệ ấy trước:

 

      Tiện tựu kim triêu thành Phật khứ,

      Lạc bang hóa chủ dĩ hiềm trì,

      Na kham cánh dục chi hồ giả,

      Quản thủ luân hồi một liễu thời.

      便就今朝成佛去。

樂邦化主已嫌遲。

那堪更欲之乎者。

管取輪迴沒了時。

      (Dẫu về thành Phật bữa nay,

      Lạc bang hóa chủ chê bai trễ rồi!

Muốn còn bàn luận khơi khơi,

Luân hồi giữ mãi biết đời nào ra!)

     

      Đây là thiền sư Trung Phong giáng cho chúng ta một gậy, hy vọng

cú đập ấy đánh thức chúng ta. Nếu còn không tỉnh sẽ thường xuyên bị Ngài đánh. Nếu quý vị thực sự minh bạch, thực sự giác ngộ, quý vị sẽ trở thành như thế nào? Sẽ đúng như đường chủ Niệm Phật Đường đã nói: “Buông thân tâm thế giới xuống”, tức là tất cả pháp thế gian và xuất thế gian đều buông xuống hết.

Hình như có ai đó từng hỏi tôi, viết thư hỏi tôi mấy vấn đề. Ông ta hỏi: “Nếu chúng ta buông hết thảy xuống thì có phải là công việc cũng không cần làm hay không? Cũng chẳng cần chiếu cố người khác, đem tiền đi bố thí hết, chúng ta sống trong ngày mai bằng cách nào đây?” ông ta nêu ra câu hỏi đó. Nói thật ra, nêu ra những câu hỏi ấy tức là ông ta thực sự không hiểu ý nghĩa kinh Phật, đã hiểu lầm rồi. Tôi giảng ở đây mà quý vị còn hiểu lầm ý nghĩa. Nói khó lắm! Tôi giảng quý vị nghe còn hiểu sai, vậy thì lời Phật giảng lẽ nào chẳng hiểu sai?

Quý vị thấy trong “Tịnh nghiệp tam phước”, câu đầu tiên, đức Phật dạy chúng ta hiếu dưỡng phụ mẫu. Chúng ta buông bỏ hết thảy, đối với cha mẹ là bất hiếu. Trong hiếu dưỡng phụ mẫu bao gồm cả chuyện chăm sóc gia đình, làm thế nào để có thể (giống như kinh Phật đã giảng) chiếu cố cả hai mặt? Phải học tập như thế nào mới đúng pháp? Tôi tin rằng có không ít người nghi hoặc như thế. Trên thực tế, trong những buổi giảng chúng tôi thường nói: “Buông xuống không phải là buông xuống trên mặt Sự, phải buông xuống nơi tâm”. Quý vị cần phải hiểu: Buông xuống nơi tâm không phải là chuyện gì cũng không quan tâm. Quý vị nghĩ chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát, các Ngài minh tâm kiến tánh, các Ngài buông xuống như thế nào? Quý vị chỉ nghĩ đến đức Phật thường dạy chúng ta thọ trì, đọc tụng vì người khác diễn nói. Thực sự buông xuống, triệt để buông xuống, nhưng buông xuống rồi thì sao? Vì người khác biểu diễn chính là quý vị thực sự buông xuống. Hiện tại là như thế nào? Hiện tại quý vị đang diễn kịch trên sân khấu, quý vị phải diễn cho thật giống, vậy mới là đúng. Có như vậy thì Lý và Sự mới viên dung.

      Trong tâm không dính mảy may dơ bẩn nào, các đại đức nhà Thiền thường nói: “Bách hoa tùng trung quá, phiến diệp bất triêm thân” (Qua rừng trăm hoa nở, mẩu lá chẳng dính thân). Đi qua rừng trăm hoa là tùy duyên, Phật pháp tại thế gian, chẳng lìa pháp thế gian. Phật pháp tại thế gian, chẳng hoại thế gian pháp, mọi pháp thế gian thứ gì cũng đều làm đúng như pháp. Hiếu dưỡng phụ mẫu, tôn kính sư trưởng, yêu mến anh em, luân lý đạo đức điều gì cũng thực hiện cho thật tốt, cho thật viên mãn, trong tâm thực sự không vướng mắc mảy may. Đấy chính là Phật, Bồ Tát. Trong tâm có điều gì thì quý vị là phàm phu. Như vậy, Sự thì có, nhưng Lý thì không, Tướng có, Tánh không, Tánh - Tướng vô ngại, Lý - Sự như một, như vậy mới là thực sự hiểu. Do vậy, càng thực sự hiểu sẽ càng thực sự buông xuống được, càng thực hiện tốt hơn.

Đối với phụ mẫu, tôn trưởng phải chăm sóc hết sức viên mãn chu đáo, vì sao? Nêu tấm gương tốt cho đại chúng xã hội. Đó gọi là “Phật pháp tại thế gian, chẳng lìa pháp thế gian”, nêu gương tốt nhất cho thế gian. Ngũ luân, bát đức[6] thảy đều phải làm, dẫu một chút cũng chẳng được lơ mơ, lạng quạng; nhưng tâm địa thanh tịnh, quyết định không tiêm nhiễm mảy may, đó là Phật pháp. Phật pháp và thế gian pháp là một pháp, không phải là hai pháp. Quý vị giác ngộ thì Phật pháp là thế gian pháp, thế gian pháp là Phật pháp. Không giác ngộ thì Phật pháp cũng trở thành thế gian pháp. Vì sao? Tâm quý vị không thanh tịnh, quý vị nhiễm ô, quý vị sanh phiền não, không sanh trí huệ. Phật pháp tại thế gian, sanh trí huệ, không sanh phiền não, khác nhau!

Mặt nào cũng làm hết sức chu đáo, diễn tuồng, đức Phật gọi là “diễn nói”, quý vị phải nêu gương giác ngộ, nêu gương làm Phật, nêu gương làm Bồ Tát. Nếu quý vị vẫn chưa hiểu lời nói này, hãy xem năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử: Năm mươi ba vị thiện tri thức ấy đều là chư Phật Như Lai, họ thị hiện các nghề nghiệp, trai, gái, già, trẻ. Quý vị tìm vị nào có thân phận, có hạnh nghiệp liên quan đến mình, thấy vị ấy làm như thế nào, nghĩa là thấy vị ấy biểu diễn như thế nào bèn học theo, sẽ giải quyết được vấn đề của chính mình. Ở đây, đại sư vì lũ người mê hoặc điên đảo, lưu luyến thế gian chúng ta vẫn không chịu nghiêm túc nỗ lực học Phật mà giáng ngay cho một gậy vào đầu!

      “Tiện tựu kim triêu thành Phật khứ” (dẫu trở về thành Phật ngay trong ngày hôm nay) “thành Phật khứ” (đi thành Phật) chính là vãng sanh. Vãng sanh chính là thành Phật, thật đấy, không giả đâu! Chúng ta sanh về thế giới Cực Lạc là ra đi trong khi còn sống, không chết, đang sống mà đi, chứ không phải chết rồi mới đi! Ta còn sống, chưa tắt hơi, sáng suốt, minh mẫn, Phật đến tiếp dẫn, ta theo Phật ra đi! Đó là “đi”, đang còn sống mà theo Phật ra đi, thân thể không cần đến nữa, bỏ đi!

Vì thế, vãng sanh là ra đi trong khi còn sống, chứ không phải chết rồi mới đi. Vì vậy, chúng tôi bảo pháp môn này “không già, không bệnh, không chết”, đó gọi là gì vậy? Là đại sự! Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong thế gian, đại sự gì vậy? Chính là đại sự này. Quý vị hãy nghĩ xem: Há còn có sự nào lớn lao hơn chuyện này hay chăng? Ngài thực sự dạy cho chúng ta cách không già, không bệnh, không chết. Nếu quý vị không chiếu theo phương pháp này mà thực hành thì không còn có cách nào nữa. Đức Phật là thầy, thầy chẳng thể ép buộc học trò, học trò học được thì thành công, nhất định phải nhờ vào ý chí tự phát khởi và tự lực, thầy có giúp cũng không được. Nếu chính quý vị chẳng thể tự động, tự phát, nỗ lực tự cường, quý vị làm sao có thể thành tựu cho được?

      Do vậy, ở đây, đại sư giảng: Dẫu cho chúng ta vãng sanh ngay trong hiện tại, thì “Lạc Bang hóa chủ” – Lạc Bang là thế giới Cực Lạc, “hóa chủ” là A Di Đà Phật – A Di Đà Phật vẫn chê quý vị trở về quá chậm, vì sao giờ này quý vị mới đến? A Di Đà Phật ở trong thế giới Cực Lạc đã mười kiếp, sao bây giờ quý vị mới đến? Vãng sanh ngay trong hiện tại, mà A Di Đà Phật còn chê là chậm trễ. “Na kham cánh dục chi hồ giả” (há có nên muốn bàn luận xuông nữa ư): Câu này cũng là giáng cho chúng ta một gậy, chẳng được làm những chuyện “chi hồ giả dã” nữa! “Chi hồ giả dã”[7] là gì vậy? Chính là đọc kinh, nghiên cứu giáo pháp, vẫn lưu luyến chốn này, vẫn chưa buông xuống được, vẫn không muốn ra đi ngay lập tức.

Nếu vẫn còn lưu luyến kinh giáo, “quản thủ luân hồi một liễu thời” (vẫn giữ lấy luân hồi không lúc nào xong), quý vị vẫn tiếp tục muốn luân hồi trong lục đạo, chẳng thể xong được. Đúng là phải hiểu rõ, phải thông suốt, phải giống như Liên Trì đại sư: “Tam Tạng thập nhị bộ, nhượng cấp biệt nhân ngộ” (Tam Tạng mười hai bộ kinh nhường cho người khác ngộ). Muốn học Tam Tạng mười hai bộ kinh chính là làm chuyện “chi hồ giả dã”. Nếu thực sự thấu hiểu sẽ không làm chuyện đó nữa, nhường cho người khác ngộ. “Bát vạn tứ thiên hạnh, nhiêu dữ tha nhân hành” (tám vạn bốn ngàn hạnh, nhường cho người khác hành). Tám vạn bốn ngàn pháp môn, quý vị thích pháp nào thì hành pháp đó, tôi không hành, tôi đã quay đầu lại rồi.

Vì thế, các đại đức tổ sư đến cuối cùng, một bộ A Di Đà Kinh, một câu Nam-mô A Di Đà Phật bèn thành công, bèn viên mãn. Chúng ta vẫn phải nghiên cứu kinh giáo là vì sao? Vì chưa chết sạch lòng mong ngóng, khiêm hư sát đất tin tưởng, vẫn chưa chịu chết sạch lòng mong ngóng, khiêm hư sát đất buông xuống. Mục đích của kinh giáo là khiến cho quý vị triệt để giác ngộ, hễ giác ngộ rồi thì phải buông hết mọi thứ xuống. Ngộ là thấy thấu suốt, sau khi thấy thấu suốt rồi bèn buông xuống, thâm nhập một môn, một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng cực bèn thành công, không còn luân hồi trong lục đạo nữa. Bài kệ này rất quan trọng, hiện thời có được mấy người giác ngộ quay lại? Mấy người thực sự buông xuống? A! Bây giờ hết giờ rồi.

 

Nam Mô A Di Đà Phật!
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
中峰三時繫念法事全集講記
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không
Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa