Pháp sư

[Tập 6]: Thích Ca Mâu Ni Phật Giới Thiệu Cho Chúng Ta Cảnh Giới Nào Của Tây Phương Cực Lạc.


 

Chư vị đồng học!

      Chúng ta hãy xem tiếp, trên đây là một đoạn văn kỳ đảo, chúng ta hãy đọc qua một lượt:

      Thử nhất biện hương, căn bàn kiếp ngoại, chi bá trần hoàn, bất kinh thiên địa dĩ sanh thành, khởi thuộc âm dương nhi tạo hóa, nhiệt hướng lô trung, chuyên thân cúng dường thường trụ Tam Bảo, sát hải vạn linh.

  此一瓣香。根蟠劫外。枝播塵寰。不經天地以生成。豈

屬陰陽而造化。爇向爐中。專伸供養。常住三寶。 剎海萬 靈。

  (Một nén hương này, gốc cuộn ngoài kiếp, nhánh trùm vũ trụ, chẳng do trời đất sanh thành, há thuộc Âm Dương tạo hóa? Đốt đặt trong lò, chuyên dâng cúng dường, thường trụ Tam Bảo, vạn linh trong các cõi nhiều như biển). 

      Mấy câu này thật hết sức trọng yếu, nhất định chẳng được nói niệm xuông đoạn văn này là đủ, tâm ta nhất định phải hoàn toàn ứng với văn, đấy là cái nhân chân thật để cảm ứng. Vì sao được cảm ứng? Cái nhân chân thật là ở chỗ này (tức tâm hoàn toàn ứng với lời văn trong bài Kỳ Đảo này), chúng ta chẳng thể không biết điều này. Do vậy, ta biết: Người chân chánh giác ngộ, thực sự minh bạch, họ cũng thực sự có cùng một Thể với pháp giới và hư không giới, niệm niệm chẳng lìa, niệm niệm chẳng cách ngăn, chướng ngại. Họ cảm ứng cùng pháp giới, hư không giới; trên là chư Phật Như Lai, dưới là chúng sanh trong địa ngục, tình và vô tình (vô tình là sơn hà đại địa, hoa cỏ, cây cối, bao gồm hết thảy tất cả hiện tượng tự nhiên, nói theo khoa học hiện thời là các hiện tượng vật chất trong vũ trụ), thảy đều được bao gồm trong ấy.

      Thành ý! Chúng tôi nói tâm chân thành trọn khắp, tâm thanh tịnh trọn khắp, tâm bình đẳng trọn khắp, tâm chánh giác trọn khắp, tâm từ bi trọn khắp vừa cảm thì ba thứ thế gian trong pháp giới, tức trí Chánh Giác thế gian là chư Phật, Bồ Tát, hữu tình thế gian là hữu tình chúng sanh, khí thế gian là vô tình, ba thứ thế gian (là toàn thể vũ trụ) đều có ứng. Một niệm của chúng ta cảm thì mọi thứ trong toàn thể vũ trụ thảy đều ứng, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta dùng điều này để hồi hướng như trong đoạn văn sau đây:

      Cực Lạc đạo sư A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng.

      極樂導師。阿彌陀佛。觀音勢至。清淨海眾。

      Đây là chuyên chỉ (tức nói rõ đối tượng hồi hướng), bởi lẽ, công khóa chúng ta đang tu đây nhằm để cầu sanh Tịnh Độ, cầu được thân cận Di Đà, thân cận Quán Âm, Thế Chí, thân cận hết thảy đại chúng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu tâm hạnh chúng ta chẳng thuần tịnh, thuần thiện, sẽ chẳng thể cảm ứng. Bởi thế, trong tâm chẳng được xen tạp mảy may; nếu không, sai mất rồi! Trong tâm ắt chẳng có kẻ oán hận nào, chẳng có oán hận gì; hễ có một thứ nào thì sẽ là xen tạp, tâm thuần tịnh thuần thiện bị phá hoại. Nhất định phải biết buông xuống; chẳng thể buông xuống được là hại mình, hại tự tánh, hại chân tâm. Tự tánh mê thì chân tâm trở thành hư vọng, vì đã bị một vọng niệm xen tạp. Ngàn vạn phần chẳng được xem thường vọng niệm, vọng niệm đó gây hại; không có pháp thế gian, xuất thế gian nào gây hại bằng nó đâu! Có như thế thì mới thấy tánh chất nghiêm trọng của vọng niệm. Sau cùng là hai câu tổng kết:

      Tất trượng chân hương, phổ đồng cúng dường.

      悉仗真香。普同供養。

      (Đều cậy vào chân hương, bình đẳng cúng dường khắp cả).

      Chân hương này là hương quang tánh đức, “phổ đồng cúng dường” là tu đức, tương ứng với tánh đức. Đức Phật nói: Trong hết thảy các thứ cúng dường, pháp cúng dường bậc nhất. Sự cúng dường ở đây thuộc về pháp cúng dường, nay chúng ta đang tu hành pháp cúng dường; như trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện đã dạy chúng ta “như giáo tu hành cúng dường” (cúng dường bằng cách tu hành theo đúng lời dạy). Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta học làm theo như thế ấy, mọi sự Phật chỉ dạy chúng ta đều thực hành, đó là cúng dường. Chúng ta thấy những lời trần thuật trong đoạn văn kỳ đảo này đều là những lời đức Phật thường răn dạy trong kinh luận, chúng ta phải học tập, niệm niệm chẳng quên, niệm niệm thực hiện, khế nhập cảnh giới, đó là “phổ đồng cúng dường”. Tiếp đó, đọc ba lần:

      Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.

南無香雲蓋菩薩摩訶薩。

Ý nghĩa giống như ở phần trên, niệm danh hiệu này phải hiểu được ý nghĩa của danh hiệu. “Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát” là tiếng gọi chung hết thảy Bồ Tát, chứ chẳng phải chuyên chỉ một vị nào, hoặc chuyên chỉ một “quần thể” nào! Nay chúng ta gọi “quần thể” là đoàn thể. Tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát trong khắp giới, hư không giới đều được bao gồm trong ấy, đều là Hương Vân Cái. [Bài văn kỳ đảo trong phần này của] pháp sự giống như đoạn văn kỳ đảo vừa được nói trong phần trên, đều cùng là Tự Phần của pháp sự.

      Dưới đây, chánh thức bước vào pháp  sự  Tam  Thời  Hệ  Niệm Tam Thời Hệ Niệm có ba thời: Thời thứ nhất, thời thứ hai và thời thứ ba. Quý vị phải biết ba thời này cùng lấy “trì danh niệm Phật” làm chủ, nhưng với mỗi thời pháp sự, mở đầu bằng niệm kinh, đại sư chọn Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Trước hết là niệm kinh, rồi mới niệm chú, tức là niệm chú Vãng Sanh. Tiếp đó là nghe kinh, tức là nghe giảng khai thị. Mỗi chữ, mỗi câu trong phần khai thị đều là kinh văn, nay chúng ta gọi là “tập hội”, tức là tom góp những khai thị trọng yếu nhất, tinh túy nhất trong kinh luận nhà Phật, hòng cảnh tỉnh chúng ta, khiến cho chúng ta thời thời khắc khắc chẳng quên, cùng học tập. Trước khi niệm kinh, trước hết phải niệm ba câu:

      Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.

      南無蓮池海會佛菩薩。

      Nam-mô nghĩa là quy mạng, quy y, lễ kính, chí thành cung kính. “Liên Trì Hải Hội” là Tây Phương Cực Lạc thế giới, hội này vĩnh hằng chẳng tan, nếu nói bằng thuật ngữ Phật pháp thì là pháp hội bất sanh bất diệt. “Liên Trì” có thật! Trong kinh đức Phật đã nhắc đến ao báu, nước tám công đức. Ao ấy do các báu hợp thành, đáy ao chẳng phải là cát bùn mà là cát bằng vàng. Phật nói như vậy. Trong ao ấy nở đầy hoa sen, hoa sen do đâu mà có? Hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong ao sen trước giảng đường của Phật A Di Đà bèn mọc một đóa hoa sen. Trên hoa ghi tên họ kẻ ấy, chẳng nhầm lẫn! Hoa sen do đó mà có, tột bậc tuyệt diệu vậy!

      Nếu tâm quý vị lui sụt, không còn ý nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới nữa, hoa sen ấy bèn chết khô, chẳng còn hoa sen đó nữa. Có thể nói: Trong thế giới Cực Lạc, tất cả hết thảy hoa cỏ, cây cối, tình và vô tình đều là bất sanh bất diệt, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ thấy có một tướng sanh diệt là hoa sen trong ao sen, hoa sen thực sự có sanh có diệt. Cá nhân đó nhất niệm muốn cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì trong ao đó mọc lên một đóa sen; tâm thoái thất thì hoa sen chẳng còn nữa. Trong thế giới Cực Lạc, chỉ có mỗi chuyện này là thấy có tướng sanh diệt. Nếu quý vị phát tâm rất chân thành, thiết tha, tu hành thật dũng mãnh, hoa của quý vị tăng trưởng rất nhanh, ánh sáng, màu sắc xinh đẹp. Nếu quý vị tu hành xen tạp quá nhiều, hoa kém tươi đẹp, tựa hồ có quá nhiều màu sắc hỗn tạp, hoa sen cũng chẳng to.

      Nói tóm lại, người chuyên tu Tịnh nghiệp, hết thảy chẳng xen tạp thì hoa  sen  của  người  ấy  tăng trưởng vừa nhanh, vừa đẹp, vừa lớn. Trong tương lai, khi vãng sanh, A Di Đà Phật cầm hoa sen đó đến tiếp dẫn [hành giả] vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, hóa sanh trong hoa sen đó! Có phải là sanh về thế giới Cực Lạc là sẽ biến thành một đứa bé ở trong hoa sen ấy hay không? Thưa cùng quý vị, không phải vậy! Nếu biến thành giống như một đứa bé dần dần lớn lên thì Tây Phương Cực Lạc thế giới có tướng sanh - lão - bệnh - tử. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có những chuyện như thế, hễ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, hình dạng sẽ vĩnh viễn cố định như thế, hóa sanh mà! Tướng hảo quang minh chẳng khác Phật cho lắm!

      Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật đã giới thiệu bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật rất rõ ràng, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thể chất đều là thân kim cang tử ma chân kim sắc, thân kim cang bất hoại, tướng mạo chẳng chỉ có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp đâu nhé, chẳng phải chỉ vậy! Ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình chỉ là Ứng Liệt Thân trong thế gian chúng ta mà thôi. A Di Đà Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới “có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng vẻ đẹp”, đến chỗ nào bèn mang thân [tương xứng với] nơi đó. Trong kinh đức Phật dạy rất rõ ràng: A Di Đà Phật tiếp dẫn quý vị vãng sanh, liên hoa hóa sanh, quý vị ở trong hoa sen ấy, do vì quý vị mang nghiệp theo nên hoa sen chưa nở, đó là đới nghiệp.

      Bài kệ Hồi Hướng chúng ta thường đọc cũng là lời cầu nguyện nơi tâm: “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Do đây ta biết: Câu ấy đâu phải là nói tùy tiện, lúc nào hoa nở? Lúc chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, hoa sẽ nở! Vô Sanh Pháp Nhẫn là pháp chứng đắc của Bồ Tát Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Thất Địa Bồ Tát chứng được hạ phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa chứng trung phẩm, Cửu Địa chứng thượng phẩm. Do đây ta biết rằng: Trong hoa sen, quý vị chứng đắc quả vị rồi hoa sen mới nở. “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Do đây biết rằng: Nếu chưa thực sự chứng đắc Thất Địa thì hoa chưa nở. Khi hoa chưa nở, có phải là rất cô độc hay chăng? Chẳng phải, trong hoa có thế giới, thế giới gì vậy? Thế giới Cực Lạc.

      Trong hoa là thế giới Cực Lạc, ngoài hoa cũng là thế giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc trong hoa chẳng nhỏ, thế giới Cực Lạc ngoài hoa chẳng lớn, trong - ngoài là một, chẳng phải hai. A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí giáo hóa quý vị ở trong hoa, hải hội đại chúng cũng ở trong hoa. Quý vị cảm thấy kỳ quá ư? Không có chút gì kỳ quái hết. Vì sao vậy? Quý vị thấy trong kinh Hoa Nghiêm còn có những việc càng kỳ quái hơn nữa kia! Kinh Hoa Nghiêm nói sao? Trong vi trần có thế giới. Mỗi một vi trần – nơi thân chúng ta chẳng biết có bao nhiêu là vi trần – vi trần được nói trong nhà Phật chính là cơ bản của vật chất. Khoa học hiện tại nói cơ bản của vật chất là gì? Là nguyên tử, điện tử (electron), lạp tử (leptons). Hiện thời họ còn phát hiện những hạt nhỏ hơn lạp tử, hình như được đặt tên là khoa-khắc (quark), nhỏ hơn lạp tử nhiều, trong kinh Phật gọi chúng là “vi trần”. Trong vi trần có thế giới, thế giới lớn cỡ nào? Hoàn toàn giống với thế giới chúng ta hiện đang cảm nhận đây!

      Vì thế, đức Phật thường nói: Trong một lỗ chân lông hay nơi đầu một sợi lông, Phật chuyển đại pháp luân. Chuyển đại pháp luân là khai đại pháp hội, vạn ức Bồ Tát cùng ở một chỗ nghe đức Phật giảng kinh thuyết pháp. Ở đâu vậy? Trên đầu một sợi lông. Đầu lông chẳng phóng to, pháp hội chẳng rút nhỏ. Trong tự tánh chẳng có lớn - nhỏ, chẳng có dài - ngắn, chẳng có trước - sau, chẳng có xa - gần. Mấy năm gần đây, hằng ngày chúng ta đọc Hoa Nghiêm, đối với những điều đức Phật đã nói như thế, chúng ta nghe quen tai rồi, chẳng còn cảm thấy kỳ quái nữa. Có những người nghe như thế bèn có thể tiếp nhận được, chứng tỏ tâm lượng họ dần dần mở rộng. Sự việc này quả thật rất khó hiểu, thực sự khó hiểu; chúng tôi sẽ nêu thí dụ để quý vị hiểu được. Trong kinh Phật, tỷ dụ được dùng nhiều nhất là “mộng, huyễn, bọt, bóng”. Trong bốn thứ mộng, huyễn, bọt, bóng ấy, lấy mộng làm chủ, huyễn, bọt, bóng là nói thêm.

      Mỗi cá nhân chúng ta đều có kinh nghiệm nằm mộng, quý vị nói cảnh giới trong mộng là lớn hay nhỏ? Cảnh giới trong mộng là gì? Theo Phật pháp, mộng là do một chủng tử trong A Lại Da Thức hiện hành, nhớ kỹ: Một chủng tử! Chủng tử ấy lớn cỡ nào? Hiện nay, khoa học nêu ra một thuyết tôi nghe bèn gật đầu, cũng có lý đôi chút! Các nhà khoa học nói khởi nguyên của vũ trụ là từ một điểm bất thình lình “bùng vỡ” biến hiện ra vũ trụ. Tôi nghe vậy, không đồng ý “bùng vỡ” là chân tướng sự thật, nhưng từ trong một điểm đột nhiên biến hiện ra thì đúng. Một điểm lớn cỡ nào? Các nhà khoa học tính toán, cho rằng lấy một sợi tóc trên đầu chúng ta đem cắt ngang, nhìn vào thiết diện của sợi tóc thấy rất nhỏ. Họ nói một điểm lớn cỡ nào? Đem thiết diện (mặt cắt ngang) của một sợi tóc đó chia thành một trăm ức phần, những phần chia nhỏ như vậy có thể xếp bày thành một trăm ức phần, cảnh giới được hiện đó gọi là “nhất thời đốn hiện”. Điều này có thể giải thích mộng cảnh của chúng ta.

Mỗi ngày từ sáng đến tối chúng ta đều nằm mộng. Những tướng được hiện trong mộng cảnh sẽ hiện như thế nào? Hiện khởi những chủng tử trong A Lại Da Thức. Những chủng tử ấy tợ hồ không có hình tướng, chẳng những mắt thịt không thấy được mà kính hiển vi cũng chẳng thể thấy. Các nhà khoa học do đâu mà biết? Họ suy diễn từ lý luận Số học. Về căn bản, khoa học kỹ thuật hiện đại vẫn chưa làm được, vẫn chưa có biện pháp để phát hiện điều này; nhưng cách giải thích ấy khiến chúng tôi nghĩ đến những điều được dạy trong kinh: Trong A Lại Da Thức tàng trữ chủng tử, những chủng tử ấy không có hình tướng. Nếu chúng có hình tướng, đức Phật nói “trọn hư không cũng chẳng thể chứa hết được nổi”, nhưng chúng thực sự tồn tại. Mỗi một chủng tử đều có thể nhất thời đốn hiện, hiện ra cảnh giới, cảnh giới chẳng có lớn hay nhỏ.

      Làm thế nào để nhập cảnh giới ấy? Theo kinh Hoa Nghiêm mà chúng ta đã đọc trước đây, Phổ Hiền Bồ Tát nhập được. Trên thực tế, Phổ Hiền Bồ Tát nói Đẳng Giác có thể nhập được, nhưng Phổ Hiền là Đẳng Giác, có vị Đẳng Giác Bồ Tát nào chẳng tu hạnh Phổ Hiền? Vì thế, Phổ Hiền chẳng phải là một người, Văn Thù cũng chẳng phải là một vị. Quán Âm, Thế Chí [cũng giống như thế], chỉ cần là một vị Đẳng Giác Bồ Tát [tu hạnh giống như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí], chúng ta đều có thể coi [những vị Đẳng Giác Bồ Tát ấy] như là một người. Danh hiệu bất đồng biểu thị trí huệ, năng lực bất đồng, chứ trên thực tế, trí huệ năng lực của các Ngài đều viên mãn. Danh hiệu tượng trưng cho sự viên mãn của một bộ phận [trí huệ, năng lực] nào đó. Ý nghĩa là như vậy đó. Đẳng Giác Bồ Tát có thể nhập vô lượng vô biên thế giới, thế giới trùng trùng vô tận, chẳng thể nghĩ bàn.

      Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho chúng ta biết: Hoa sen trong ao sen “đại như xa luân” (to như bánh xe), chẳng phải như hạt cải, chẳng phải là vi trần. Do đây, chúng ta hiểu rõ: Mỗi hoa sen là một thế giới, kẻ ấy (người được liên hoa hóa sanh trong thế giới Cực Lạc) tu hành trong đó, hoạt động trong đó. Ở trong hoa sen, hằng ngày cúng dường mười phương vạn ức chư Phật chẳng chướng ngại. Tây Phương Cực Lạc thế giới và Hoa Tạng giống nhau. Chẳng những giống nhau mà Cực Lạc còn là cốt lõi của Hoa Tạng, là phần tinh túy của Hoa Tạng, là bộ phận tinh hoa nhất, được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì, tác dụng chẳng thể nghĩ bàn. Đến khi hoa nở sẽ thấy Phật, sau khi hoa nở là cảnh giới nào? Là cảnh giới Thật Báo Trang Nghiêm Độ của A Di Đà Phật! Quý vị phải hiểu Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ đều là lúc hoa chưa nở, khi hoa nở là Thật Báo Trang Nghiêm Độ.

      Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói rất rõ ràng, vãng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ, ở trong hoa sen bao lâu mới nở? Mười hai kiếp. Chúng ta nghe thời gian mười hai kiếp [cảm thấy] lâu quá! Trên thực tế, hãy nghĩ xem, trong các kinh Đại Thừa, đức Phật nói, kể từ ngày quý vị chứng được quả Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân, tính từ ngày đó trở đi, tu hành trong thế giới Hoa Tạng, tu trọn bốn mươi mốt địa vị, cuối cùng chứng được địa vị Diệu Giác, phải mất bao nhiêu thời gian? Trong kinh thường nói là ba đại A-tăng-kỳ kiếp!

      Ba đại A-tăng-kỳ kiếp! Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là mười hai kiếp, quý vị mới thấy trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tu hành nhanh hơn nhiều lắm. Trong các cõi Phật khác phải tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ tu mười hai kiếp, [đó là sự tu hành của những người thuộc] Hạ Hạ Phẩm vãng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Vì thế, mười phương Bồ Tát có ai mà chẳng muốn biết pháp môn này? Có ai chẳng muốn học pháp môn này? Quả thật do nhân duyên mỗi người bất đồng, thực sự có rất nhiều Bồ Tát chẳng biết [pháp môn Tịnh Độ]. Thiện Đạo đại sư bảo: “Tổng tại duyên bất đồng” (nói chung là do gặp duyên khác nhau). Chúng ta nay gặp được pháp duyên thù thắng này, chẳng phải là việc đơn giản. Tây Phương Cực Lạc là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, nhất quyết chớ nên hoài nghi. Quý vị hoài nghi là đã bỏ lỡ cơ hội trong một đời này vậy!

      Trong ba kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta biết cõi Tịnh Độ nào của Tây Phương Cực Lạc thế giới? Ngài toàn giới thiệu cho chúng ta Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Những điều nói trong kinh A Di Đà là [nói về] Phàm Thánh Đồng Cư Độ, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật cũng đều nhằm giới thiệu cõi ấy. Phàm Thánh Đồng Cư Độ đã thù thắng như thế, những cõi [Tịnh Độ] cao hơn [trong Tây Phương Cực Lạc thế giới] thì cần phải nói chi nữa? Người học Phật bỏ Tịnh Độ Di Đà, tu các pháp môn khác, chẳng những là khó, mà thật ra còn đúng như thầy Lý Bỉnh Nam đã viết trong bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ, đó là những kẻ ngu si, mê hoặc – “phi ngu tức mê” (không ngu thì cũng là mê). Vứt bỏ pháp chúng ta hết sức có khả năng thành tựu ngay trong một đời này, vứt bỏ pháp như vậy quả là đáng tiếc!

      Ao sen, nước tám công đức do tự tánh biến hiện, duy tâm sở hiện, hải hội đại chúng chẳng ngoại lệ. Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ. A Di Đà Phật là tự tánh Di Đà, bởi thế trong khai thị ở phần sau, Trung Phong thiền sư nói: “Ngã tâm tức thị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức thị ngã tâm” (Tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta), “thử phương tức Cực Lạc, Cực Lạc tức thử phương” (phương này tức Cực Lạc, Cực Lạc tức phương này). Những lời ấy hết sức sâu xa, nhưng là chân tướng của sự thật, chẳng giả chút nào. Những người học Phật, đem mình và Phật chia thành hai, Phật chẳng phải là ta, ta chẳng phải là Phật; đem hoàn cảnh sống hiện tại của chúng ta và thế giới Cực Lạc chia thành hai, Cực Lạc chẳng phải là Sa Bà, Sa Bà chẳng phải là Cực Lạc. Quý vị thấy Trung Phong Thiền Sư đã hợp hai thứ ấy thành một.

      Vì sao tướng khác nhau? Tướng khác nhau là do tâm tưởng sanh. Do quý vị nghĩ “chẳng phải là một” nên tướng chẳng giống nhau. Nếu cách nghĩ, cách nhìn của quý vị là một, thì tướng bèn thành một. Hiện tại, chúng ta khởi tâm, động niệm, nói năng, tạo tác, thực sự chẳng giống với người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tâm họ thuần tịnh, thuần thiện, tâm chúng ta bất tịnh, bất thiện. Dù có nói là tịnh thì trong tịnh vẫn xen tạp bất tịnh, nói là thiện thì vẫn xen tạp bất thiện, nên chẳng giống nhau được! Do vậy, đương nhiên cảnh giới chẳng thể giống nhau.

      Trong sách, tiến sĩ Giang Bổn Thắng cho biết đã nhiều năm, ông ta hằng ngày quan sát nước kết tinh giống như hoa tuyết, chưa bao giờ thấy hai mẫu kết tinh giống nhau. Mùa Đông hoa tuyết kết tinh cũng giống như thế. Nhìn dưới kính hiển vi, chắc chắn [mỗi hoa tuyết hay hình dạng kết tinh của nước] chẳng giống nhau, chúng ta hiểu rõ đạo lý này. Ai thấy tất cả hết thảy kết tinh đều tương đồng? Kinh Đại Thừa nói “Phật Phật đạo đồng”. Chúng ta hãy nghĩ xem: Sau khi thành Phật, một phẩm sanh tướng vô minh tối hậu đã đoạn sạch rồi; nói cách khác, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chẳng còn mảy may gì xen tạp, chư Phật thấy hết thảy hiện tượng trong vũ trụ nhất định tương đồng. Thập Địa Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát thấy hết thảy cảnh giới hết sức giống nhau, hết sức gần gũi, nhưng xem kỹ vẫn chẳng tương đồng, huống chi lục đạo phàm phu! Đương nhiên [phàm phu thấy các cảnh giới] chẳng tương đồng! Mỗi một người chúng ta thấy nước kết tinh cũng chẳng tương đồng, vì sao? Tiền niệm khác với hậu niệm. Đức Phật này giống hệt đức Phật kia vì các Ngài đều chẳng có ý niệm, cách thấy của các Ngài hoàn toàn tương đồng, trong mỗi niệm các Ngài thấy tương đồng.

      Quý vị nhất định phải biết tất cả hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều sanh diệt trong từng sát-na. Đấy là Thật Tướng! Bất sanh bất diệt chỉ là Tánh, tự tánh bất sanh bất diệt. Tánh là gì? Ở đây, Trung Phong đại sư nói tới “linh tri”, tức là Ngài nói đến tâm. Theo Ngài, tâm có ba thứ:

1) Một là “nhục đoàn tâm” (trái tim thịt), tất cả hết thảy chúng sanh đều có.

2) Hai  là  “duyên lự tâm”, tức  là  tâm  vọng  tưởng  phân  biệt, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, là vọng  tâm. Ai  nấy  đều  có, chẳng  giống nhau.

3) “Linh tri tâm” giống nhau. Linh tri tâm là chân tâm, chân tâm bất sanh bất diệt.

“Linh, tri”: Kinh Lăng Nghiêm nói hơi tỉ mỉ hơn một chút, kinh dùng bốn chữ “kiến, văn, giác, tri” (thấy, nghe, hay, biết), Trung Phong thiền sư gộp “kiến, văn, giác” thành một chữ Linh. Linh Tri là chân tâm, hư không pháp giới do nó biến hiện; bởi thế, hư không pháp giới đương nhiên đầy đủ “kiến, văn, giác, tri”. Tâm là năng biến (chủ thể thực hiện hành động biến hiện), vạn pháp là sở biến (cái được biến hiện bởi tâm). Cổ nhân nói: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (Dùng vàng chế đồ vật, món nào cũng là vàng). Vàng là bản chất, có món vật nào lại chẳng mang đặc tánh của vàng? Đương nhiên là có, món nào cũng có đủ [đặc tánh ấy], chắc chắn chẳng khiếm khuyết mảy may. Từ tỷ dụ này, chúng ta suy ra: Tất cả hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều có linh tri.

Hiện tại, tôi có liên lạc với tiến sĩ Giang Bổn Thắng, ông ta cũng rất hoan nghênh tôi đến Nhật Bản tham quan phòng thí nghiệm của ông. Ông ta cũng muốn hiểu rõ cảnh giới Hoa Nghiêm. Tôi yêu cầu ông ta làm thật nhiều thí nghiệm để tìm hiểu sâu hơn “tất cả hết thảy vạn vật trong vũ trụ đều có linh tri”. Tất cả hết thảy vạn vật đều là sống, chẳng có thứ nào chết cả, thứ nào cũng có đủ “kiến, văn, giác, tri”. Chúng ta muốn cuộc sống của chính mình tốt đẹp, hoàn cảnh tốt đẹp, chẳng phải là không làm được, mà thực sự là chẳng dễ thực hiện. Thực hiện bằng cách nào? Thiện ý, thiện tâm thì tất cả cảnh giới đều biến thành tốt, núi sông đại địa đều sung mãn linh khí. Vì sao có tai nạn? Vì tâm chẳng lành. Trong tâm đầy ắp tự tư tự lợi, đầy ắp tham, sân, si, mạn, khởi tâm động niệm tổn người lợi mình, khiến cho phản ứng của tất cả hết thảy vạn vật thảy đều biến thành xấu xa. Phản ứng tốt đẹp là mô thức kết cấu tươi đẹp, dưới kính hiển vi, quý vị sẽ thấy được [điều này]. Tâm tình bất hảo, ý niệm bất hảo, phản ứng sẽ rất khó coi!

Do vậy, thế giới Cực Lạc là tâm thanh tịnh của chính mình, do thiện ý, mỹ ý biến hiện ra. Thế giới Sa Bà của chúng ta là do tâm nhiễm ô, do ác ý, ác niệm biến hiện ra. Bản thân hết thảy vạn vật vốn chẳng có ý niệm, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chỉ là có linh tri, chứ không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Hữu tình chúng sanh có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; vô tình chúng sanh bị chuyển theo ý nghĩ của quý vị. Do vậy, kinh thường nói “cảnh tùy tâm chuyển” (cảnh chuyển theo tâm). Đó là một nguyên lý, nguyên tắc căn bản, phải tin tưởng sâu xa, chớ nên nghi ngờ! Từ nơi đâu để thực hiện [chuyển cảnh theo tâm]? Từ thiện ý, từ nơi ý niệm của quý vị mà thực hiện, sửa đổi toàn bộ hết thảy ý niệm ác và tư tưởng ác, đổi thành thiện ý, đổi thành mỹ ý thì thế giới này trở thành tốt đẹp, thành thiện mỹ, thành “liên trì hải hội”.

Chữ “Phật Bồ Tát” chẳng cần phải giải thích nữa. Do vậy, quý vị hãy nghĩ xem: Câu này bao gồm những nghĩa lý rộng sâu vô tận, dù chúng tôi ngày ngày giảng nói, giảng suốt cả trăm năm cũng chẳng giảng hết. Hôm nay hết giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi.

 
Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
中峰三時繫念法事全集講記
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không 
Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Nam Mô A Di Đà Phật!

 

 

Chư vị đồng học!

      Chúng ta hãy xem tiếp, trên đây là một đoạn văn kỳ đảo, chúng ta hãy đọc qua một lượt:

 

      Thử nhất biện hương, căn bàn kiếp ngoại, chi bá trần hoàn, bất kinh thiên địa dĩ sanh thành, khởi thuộc âm dương nhi tạo hóa, nhiệt hướng lô trung, chuyên thân cúng dường thường trụ Tam Bảo, sát hải vạn linh.

  此一瓣香。根蟠劫外。枝播塵寰。不經天地以生成。豈

屬陰陽而造化。爇向爐中。專伸供養。常住三寶。 剎海萬

靈。

  (Một nén hương này, gốc cuộn ngoài kiếp, nhánh trùm vũ trụ, chẳng do trời đất sanh thành, há thuộc Âm Dương tạo hóa? Đốt đặt trong lò, chuyên dâng cúng dường, thường trụ Tam Bảo, vạn linh trong các cõi nhiều như biển). 

 

      Mấy câu này thật hết sức trọng yếu, nhất định chẳng được nói niệm xuông đoạn văn này là đủ, tâm ta nhất định phải hoàn toàn ứng với văn, đấy là cái nhân chân thật để cảm ứng. Vì sao được cảm ứng? Cái nhân chân thật là ở chỗ này (tức tâm hoàn toàn ứng với lời văn trong bài Kỳ Đảo này), chúng ta chẳng thể không biết điều này. Do vậy, ta biết: Người chân chánh giác ngộ, thực sự minh bạch, họ cũng thực sự có cùng một Thể với pháp giới và hư không giới, niệm niệm chẳng lìa, niệm niệm chẳng cách ngăn, chướng ngại. Họ cảm ứng cùng pháp giới, hư không giới; trên là chư Phật Như Lai, dưới là chúng sanh trong địa ngục, tình và vô tình (vô tình là sơn hà đại địa, hoa cỏ, cây cối, bao gồm hết thảy tất cả hiện tượng tự nhiên, nói theo khoa học hiện thời là các hiện tượng vật chất trong vũ trụ), thảy đều được bao gồm trong ấy.

      Thành ý! Chúng tôi nói tâm chân thành trọn khắp, tâm thanh tịnh trọn khắp, tâm bình đẳng trọn khắp, tâm chánh giác trọn khắp, tâm từ bi trọn khắp vừa cảm thì ba thứ thế gian trong pháp giới, tức trí Chánh Giác thế gian là chư Phật, Bồ Tát, hữu tình thế gian là hữu tình chúng sanh, khí thế gian là vô tình, ba thứ thế gian (là toàn thể vũ trụ) đều có ứng. Một niệm của chúng ta cảm thì mọi thứ trong toàn thể vũ trụ thảy đều ứng, chẳng thể nghĩ bàn! Chúng ta dùng điều này để hồi hướng như trong đoạn văn sau đây:

 

      Cực Lạc đạo sư A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng.

      極樂導師。阿彌陀佛。觀音勢至。清淨海眾。

 

      Đây là chuyên chỉ (tức nói rõ đối tượng hồi hướng), bởi lẽ, công khóa chúng ta đang tu đây nhằm để cầu sanh Tịnh Độ, cầu được thân cận Di Đà, thân cận Quán Âm, Thế Chí, thân cận hết thảy đại chúng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nếu tâm hạnh chúng ta chẳng thuần tịnh, thuần thiện, sẽ chẳng thể cảm ứng. Bởi thế, trong tâm chẳng được xen tạp mảy may; nếu không, sai mất rồi! Trong tâm ắt chẳng có kẻ oán hận nào, chẳng có oán hận gì; hễ có một thứ nào thì sẽ là xen tạp, tâm thuần tịnh thuần thiện bị phá hoại. Nhất định phải biết buông xuống; chẳng thể buông xuống được là hại mình, hại tự tánh, hại chân tâm. Tự tánh mê thì chân tâm trở thành hư vọng, vì đã bị một vọng niệm xen tạp. Ngàn vạn phần chẳng được xem thường vọng niệm, vọng niệm đó gây hại; không có pháp thế gian, xuất thế gian nào gây hại bằng nó đâu! Có như thế thì mới thấy tánh chất nghiêm trọng của vọng niệm. Sau cùng là hai câu tổng kết:

 

      Tất trượng chân hương, phổ đồng cúng dường.

      悉仗真香。普同供養。

      (Đều cậy vào chân hương, bình đẳng cúng dường khắp cả).

 

      Chân hương này là hương quang tánh đức, “phổ đồng cúng dường” là tu đức, tương ứng với tánh đức. Đức Phật nói: Trong hết thảy các thứ cúng dường, pháp cúng dường bậc nhất. Sự cúng dường ở đây thuộc về pháp cúng dường, nay chúng ta đang tu hành pháp cúng dường; như trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện đã dạy chúng ta “như giáo tu hành cúng dường” (cúng dường bằng cách tu hành theo đúng lời dạy). Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta học làm theo như thế ấy, mọi sự Phật chỉ dạy chúng ta đều thực hành, đó là cúng dường. Chúng ta thấy những lời trần thuật trong đoạn văn kỳ đảo này đều là những lời đức Phật thường răn dạy trong kinh luận, chúng ta phải học tập, niệm niệm chẳng quên, niệm niệm thực hiện, khế nhập cảnh giới, đó là “phổ đồng cúng dường”. Tiếp đó, đọc ba lần:

 

      Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.

南無香雲蓋菩薩摩訶薩。

 

Ý nghĩa giống như ở phần trên, niệm danh hiệu này phải hiểu được ý nghĩa của danh hiệu. “Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát” là tiếng gọi chung hết thảy Bồ Tát, chứ chẳng phải chuyên chỉ một vị nào, hoặc chuyên chỉ một “quần thể” nào! Nay chúng ta gọi “quần thể” là đoàn thể. Tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát trong khắp giới, hư không giới đều được bao gồm trong ấy, đều là Hương Vân Cái. [Bài văn kỳ đảo trong phần này của] pháp sự giống như đoạn văn kỳ đảo vừa được nói trong phần trên, đều cùng là Tự Phần của pháp sự.

      Dưới đây, chánh thức bước vào pháp  sự  Tam  Thời  Hệ  Niệm. Tam

Thời Hệ Niệm có ba thời: Thời thứ nhất, thời thứ hai và thời thứ ba. Quý vị phải biết ba thời này cùng lấy “trì danh niệm Phật” làm chủ, nhưng với mỗi thời pháp sự, mở đầu bằng niệm kinh, đại sư chọn Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Trước hết là niệm kinh, rồi mới niệm chú, tức là niệm chú Vãng Sanh. Tiếp đó là nghe kinh, tức là nghe giảng khai thị. Mỗi chữ, mỗi câu trong phần khai thị đều là kinh văn, nay chúng ta gọi là “tập hội”, tức là tom góp những khai thị trọng yếu nhất, tinh túy nhất trong kinh luận nhà Phật, hòng cảnh tỉnh chúng ta, khiến cho chúng ta thời thời khắc khắc chẳng quên, cùng học tập. Trước khi niệm kinh, trước hết phải niệm ba câu:

     

      Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.

      南無蓮池海會佛菩薩。

 

      Nam-mô nghĩa là quy mạng, quy y, lễ kính, chí thành cung kính. “Liên Trì Hải Hội” là Tây Phương Cực Lạc thế giới, hội này vĩnh hằng chẳng tan, nếu nói bằng thuật ngữ Phật pháp thì là pháp hội bất sanh bất diệt. “Liên Trì” có thật! Trong kinh đức Phật đã nhắc đến ao báu, nước tám công đức. Ao ấy do các báu hợp thành, đáy ao chẳng phải là cát bùn mà là cát bằng vàng. Phật nói như vậy. Trong ao ấy nở đầy hoa sen, hoa sen do đâu mà có? Hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong ao sen trước giảng đường của Phật A Di Đà bèn mọc một đóa hoa sen. Trên hoa ghi tên họ kẻ ấy, chẳng nhầm lẫn! Hoa sen do đó mà có, tột bậc tuyệt diệu vậy!

      Nếu tâm quý vị lui sụt, không còn ý nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới nữa, hoa sen ấy bèn chết khô, chẳng còn hoa sen đó nữa. Có thể nói: Trong thế giới Cực Lạc, tất cả hết thảy hoa cỏ, cây cối, tình và vô tình đều là bất sanh bất diệt, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ thấy có một tướng sanh diệt là hoa sen trong ao sen, hoa sen thực sự có sanh có diệt. Cá nhân đó nhất niệm muốn cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì trong ao đó mọc lên một đóa sen; tâm thoái thất thì hoa sen chẳng còn nữa. Trong thế giới Cực Lạc, chỉ có mỗi chuyện này là thấy có tướng sanh diệt. Nếu quý vị phát tâm rất chân thành, thiết tha, tu hành thật dũng mãnh, hoa của quý vị tăng trưởng rất nhanh, ánh sáng, màu sắc xinh đẹp. Nếu quý vị tu hành xen tạp quá nhiều, hoa kém tươi đẹp, tựa hồ có quá nhiều màu sắc hỗn tạp, hoa sen cũng chẳng to.

      Nói tóm lại, người chuyên tu Tịnh nghiệp, hết thảy chẳng xen tạp thì

hoa  sen  của  người  ấy  tăng trưởng vừa nhanh, vừa đẹp, vừa lớn. Trong

tương lai, khi vãng sanh, A Di Đà Phật cầm hoa sen đó đến tiếp dẫn [hành giả] vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, hóa sanh trong hoa sen đó! Có phải là sanh về thế giới Cực Lạc là sẽ biến thành một đứa bé ở trong hoa sen ấy hay không? Thưa cùng quý vị, không phải vậy! Nếu biến thành giống như một đứa bé dần dần lớn lên thì Tây Phương Cực Lạc thế giới có tướng sanh - lão - bệnh - tử. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có những chuyện như thế, hễ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, hình dạng sẽ vĩnh viễn cố định như thế, hóa sanh mà! Tướng hảo quang minh chẳng khác Phật cho lắm!

      Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật đã giới thiệu bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật rất rõ ràng, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thể chất đều là thân kim cang tử ma chân kim sắc, thân kim cang bất hoại, tướng mạo chẳng chỉ có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp đâu nhé, chẳng phải chỉ vậy! Ba mươi hai tướng, tám mươi tùy hình chỉ là Ứng Liệt Thân trong thế gian chúng ta mà thôi. A Di Đà Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới “có vô lượng tướng, mỗi tướng có vô lượng vẻ đẹp”, đến chỗ nào bèn mang thân [tương xứng với] nơi đó. Trong kinh đức Phật dạy rất rõ ràng: A Di Đà Phật tiếp dẫn quý vị vãng sanh, liên hoa hóa sanh, quý vị ở trong hoa sen ấy, do vì quý vị mang nghiệp theo nên hoa sen chưa nở, đó là đới nghiệp.

      Bài kệ Hồi Hướng chúng ta thường đọc cũng là lời cầu nguyện nơi tâm: “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Do đây ta biết: Câu ấy đâu phải là nói tùy tiện, lúc nào hoa nở? Lúc chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, hoa sẽ nở! Vô Sanh Pháp Nhẫn là pháp chứng đắc của Bồ Tát Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Thất Địa Bồ Tát chứng được hạ phẩm Vô Sanh Pháp Nhẫn, Bát Địa chứng trung phẩm, Cửu Địa chứng thượng phẩm. Do đây ta biết rằng: Trong hoa sen, quý vị chứng đắc quả vị rồi hoa sen mới nở. “Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh”. Do đây biết rằng: Nếu chưa thực sự chứng đắc Thất Địa thì hoa chưa nở. Khi hoa chưa nở, có phải là rất cô độc hay chăng? Chẳng phải, trong hoa có thế giới, thế giới gì vậy? Thế giới Cực Lạc.

      Trong hoa là thế giới Cực Lạc, ngoài hoa cũng là thế giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc trong hoa chẳng nhỏ, thế giới Cực Lạc ngoài hoa chẳng lớn, trong - ngoài là một, chẳng phải hai. A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí giáo hóa quý vị ở trong hoa, hải hội đại chúng cũng ở trong hoa. Quý vị cảm thấy kỳ quá ư? Không có chút gì kỳ quái hết. Vì sao vậy? Quý vị thấy trong kinh Hoa Nghiêm còn có những việc càng kỳ quái hơn nữa kia! Kinh Hoa Nghiêm nói sao? Trong vi trần có thế giới. Mỗi một vi trần – nơi thân chúng ta chẳng biết có bao nhiêu là vi trần – vi trần được nói trong nhà Phật chính là cơ bản của vật chất. Khoa học hiện tại nói cơ bản của vật chất là gì? Là nguyên tử, điện tử (electron), lạp tử (leptons). Hiện thời họ còn phát hiện những hạt nhỏ hơn lạp tử, hình như được đặt tên là khoa-khắc (quark), nhỏ hơn lạp tử nhiều, trong kinh Phật gọi chúng là “vi trần”. Trong vi trần có thế giới, thế giới lớn cỡ nào? Hoàn toàn giống với thế giới chúng ta hiện đang cảm nhận đây!

      Vì thế, đức Phật thường nói: Trong một lỗ chân lông hay nơi đầu một sợi lông, Phật chuyển đại pháp luân. Chuyển đại pháp luân là khai đại pháp hội, vạn ức Bồ Tát cùng ở một chỗ nghe đức Phật giảng kinh thuyết pháp. Ở đâu vậy? Trên đầu một sợi lông. Đầu lông chẳng phóng to, pháp hội chẳng rút nhỏ. Trong tự tánh chẳng có lớn - nhỏ, chẳng có dài - ngắn, chẳng có trước - sau, chẳng có xa - gần. Mấy năm gần đây, hằng ngày chúng ta đọc Hoa Nghiêm, đối với những điều đức Phật đã nói như thế, chúng ta nghe quen tai rồi, chẳng còn cảm thấy kỳ quái nữa. Có những người nghe như thế bèn có thể tiếp nhận được, chứng tỏ tâm lượng họ dần dần mở rộng. Sự việc này quả thật rất khó hiểu, thực sự khó hiểu; chúng tôi sẽ nêu thí dụ để quý vị hiểu được. Trong kinh Phật, tỷ dụ được dùng nhiều nhất là “mộng, huyễn, bọt, bóng”. Trong bốn thứ mộng, huyễn, bọt, bóng ấy, lấy mộng làm chủ, huyễn, bọt, bóng là nói thêm.

      Mỗi cá nhân chúng ta đều có kinh nghiệm nằm mộng, quý vị nói cảnh giới trong mộng là lớn hay nhỏ? Cảnh giới trong mộng là gì? Theo Phật pháp, mộng là do một chủng tử trong A Lại Da Thức hiện hành, nhớ kỹ: Một chủng tử! Chủng tử ấy lớn cỡ nào? Hiện nay, khoa học nêu ra một thuyết tôi nghe bèn gật đầu, cũng có lý đôi chút! Các nhà khoa học nói khởi nguyên của vũ trụ là từ một điểm bất thình lình “bùng vỡ” biến hiện ra vũ trụ. Tôi nghe vậy, không đồng ý “bùng vỡ” là chân tướng sự thật, nhưng từ trong một điểm đột nhiên biến hiện ra thì đúng. Một điểm lớn cỡ nào? Các nhà khoa học tính toán, cho rằng lấy một sợi tóc trên đầu chúng ta đem cắt ngang, nhìn vào thiết diện của sợi tóc thấy rất nhỏ. Họ nói một điểm lớn cỡ nào? Đem thiết diện (mặt cắt ngang) của một sợi tóc đó chia thành một trăm ức phần, những phần chia nhỏ như vậy có thể xếp bày thành một trăm ức phần, cảnh giới được hiện đó gọi là “nhất thời đốn hiện”. Điều này có thể giải thích mộng cảnh của chúng ta.

Mỗi ngày từ sáng đến tối chúng ta đều nằm mộng. Những tướng được hiện trong mộng cảnh sẽ hiện như thế nào? Hiện khởi những chủng tử trong A Lại Da Thức. Những chủng tử ấy tợ hồ không có hình tướng, chẳng những mắt thịt không thấy được mà kính hiển vi cũng chẳng thể thấy. Các nhà khoa học do đâu mà biết? Họ suy diễn từ lý luận Số học. Về căn bản, khoa học kỹ thuật hiện đại vẫn chưa làm được, vẫn chưa có biện pháp để phát hiện điều này; nhưng cách giải thích ấy khiến chúng tôi nghĩ đến những điều được dạy trong kinh: Trong A Lại Da Thức tàng trữ chủng tử, những chủng tử ấy không có hình tướng. Nếu chúng có hình tướng, đức Phật nói “trọn hư không cũng chẳng thể chứa hết được nổi”, nhưng chúng thực sự tồn tại. Mỗi một chủng tử đều có thể nhất thời đốn hiện, hiện ra cảnh giới, cảnh giới chẳng có lớn hay nhỏ.

      Làm thế nào để nhập cảnh giới ấy? Theo kinh Hoa Nghiêm mà chúng ta đã đọc trước đây, Phổ Hiền Bồ Tát nhập được. Trên thực tế, Phổ Hiền Bồ Tát nói Đẳng Giác có thể nhập được, nhưng Phổ Hiền là Đẳng Giác, có vị Đẳng Giác Bồ Tát nào chẳng tu hạnh Phổ Hiền? Vì thế, Phổ Hiền chẳng phải là một người, Văn Thù cũng chẳng phải là một vị. Quán Âm, Thế Chí [cũng giống như thế], chỉ cần là một vị Đẳng Giác Bồ Tát [tu hạnh giống như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí], chúng ta đều có thể coi [những vị Đẳng Giác Bồ Tát ấy] như là một người. Danh hiệu bất đồng biểu thị trí huệ, năng lực bất đồng, chứ trên thực tế, trí huệ năng lực của các Ngài đều viên mãn. Danh hiệu tượng trưng cho sự viên mãn của một bộ phận [trí huệ, năng lực] nào đó. Ý nghĩa là như vậy đó. Đẳng Giác Bồ Tát có thể nhập vô lượng vô biên thế giới, thế giới trùng trùng vô tận, chẳng thể nghĩ bàn.

      Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho chúng ta biết: Hoa sen trong ao sen “đại như xa luân” (to như bánh xe), chẳng phải như hạt cải, chẳng phải là vi trần. Do đây, chúng ta hiểu rõ: Mỗi hoa sen là một thế giới, kẻ ấy (người được liên hoa hóa sanh trong thế giới Cực Lạc) tu hành trong đó, hoạt động trong đó. Ở trong hoa sen, hằng ngày cúng dường mười phương vạn ức chư Phật chẳng chướng ngại. Tây Phương Cực Lạc thế giới và Hoa Tạng giống nhau. Chẳng những giống nhau mà Cực Lạc còn là cốt lõi của Hoa Tạng, là phần tinh túy của Hoa Tạng, là bộ phận tinh hoa nhất, được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì, tác dụng chẳng thể nghĩ bàn. Đến khi hoa nở sẽ thấy Phật, sau khi hoa nở là cảnh giới nào? Là cảnh giới Thật Báo Trang Nghiêm Độ của A Di Đà Phật! Quý vị phải hiểu Phàm Thánh Đồng Cư Độ, Phương Tiện Hữu Dư Độ đều là lúc hoa chưa nở, khi hoa nở là Thật Báo Trang Nghiêm Độ.

      Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói rất rõ ràng, vãng sanh Phàm Thánh Đồng Cư Độ, ở trong hoa sen bao lâu mới nở? Mười hai kiếp. Chúng ta nghe thời gian mười hai kiếp [cảm thấy] lâu quá! Trên thực tế, hãy nghĩ xem, trong các kinh Đại Thừa, đức Phật nói, kể từ ngày quý vị chứng được quả Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo, phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân, tính từ ngày đó trở đi, tu hành trong thế giới Hoa Tạng, tu trọn bốn mươi mốt địa vị, cuối cùng chứng được địa vị Diệu Giác, phải mất bao nhiêu thời gian? Trong kinh thường nói là ba đại A-tăng-kỳ kiếp!

      Ba đại A-tăng-kỳ kiếp! Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là mười hai kiếp, quý vị mới thấy trong Tây Phương Cực Lạc thế giới tu hành nhanh hơn nhiều lắm. Trong các cõi Phật khác phải tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp, trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ tu mười hai kiếp, [đó là sự tu hành của những người thuộc] Hạ Hạ Phẩm vãng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Vì thế, mười phương Bồ Tát có ai mà chẳng muốn biết pháp môn này? Có ai chẳng muốn học pháp môn này? Quả thật do nhân duyên mỗi người bất đồng, thực sự có rất nhiều Bồ Tát chẳng biết [pháp môn Tịnh Độ]. Thiện Đạo đại sư bảo: “Tổng tại duyên bất đồng” (nói chung là do gặp duyên khác nhau). Chúng ta nay gặp được pháp duyên thù thắng này, chẳng phải là việc đơn giản. Tây Phương Cực Lạc là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn, nhất quyết chớ nên hoài nghi. Quý vị hoài nghi là đã bỏ lỡ cơ hội trong một đời này vậy!

      Trong ba kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta biết cõi Tịnh Độ nào của Tây Phương Cực Lạc thế giới? Ngài toàn giới thiệu cho chúng ta Phàm Thánh Đồng Cư Độ. Những điều nói trong kinh A Di Đà là [nói về] Phàm Thánh Đồng Cư Độ, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật cũng đều nhằm giới thiệu cõi ấy. Phàm Thánh Đồng Cư Độ đã thù thắng như thế, những cõi [Tịnh Độ] cao hơn [trong Tây Phương Cực Lạc thế giới] thì cần phải nói chi nữa? Người học Phật bỏ Tịnh Độ Di Đà, tu các pháp môn khác, chẳng những là khó, mà thật ra còn đúng như thầy Lý Bỉnh Nam đã viết trong bản chú giải kinh Vô Lượng Thọ, đó là những kẻ ngu si, mê hoặc – “phi ngu tức mê” (không ngu thì cũng là mê). Vứt bỏ pháp chúng ta hết sức có khả năng thành tựu ngay trong một đời này, vứt bỏ pháp như vậy quả là đáng tiếc!

      Ao sen, nước tám công đức do tự tánh biến hiện, duy tâm sở hiện, hải hội đại chúng chẳng ngoại lệ. Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ. A Di Đà Phật là tự tánh Di Đà, bởi thế trong khai thị ở phần sau, Trung Phong thiền sư nói: “Ngã tâm tức thị A Di Đà Phật, A Di Đà Phật tức thị ngã tâm” (Tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta), “thử phương tức Cực Lạc, Cực Lạc tức thử phương” (phương này tức Cực Lạc, Cực Lạc tức phương này). Những lời ấy hết sức sâu xa, nhưng là chân tướng của sự thật, chẳng giả chút nào. Những người học Phật, đem mình và Phật chia thành hai, Phật chẳng phải là ta, ta chẳng phải là Phật; đem hoàn cảnh sống hiện tại của chúng ta và thế giới Cực Lạc chia thành hai, Cực Lạc chẳng phải là Sa Bà, Sa Bà chẳng phải là Cực Lạc. Quý vị thấy Trung Phong Thiền Sư đã hợp hai thứ ấy thành một.

      Vì sao tướng khác nhau? Tướng khác nhau là do tâm tưởng sanh. Do quý vị nghĩ “chẳng phải là một” nên tướng chẳng giống nhau. Nếu cách nghĩ, cách nhìn của quý vị là một, thì tướng bèn thành một. Hiện tại, chúng ta khởi tâm, động niệm, nói năng, tạo tác, thực sự chẳng giống với người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tâm họ thuần tịnh, thuần thiện, tâm chúng ta bất tịnh, bất thiện. Dù có nói là tịnh thì trong tịnh vẫn xen tạp bất tịnh, nói là thiện thì vẫn xen tạp bất thiện, nên chẳng giống nhau được! Do vậy, đương nhiên cảnh giới chẳng thể giống nhau.

      Trong sách, tiến sĩ Giang Bổn Thắng cho biết đã nhiều năm, ông ta hằng ngày quan sát nước kết tinh giống như hoa tuyết, chưa bao giờ thấy hai mẫu kết tinh giống nhau. Mùa Đông hoa tuyết kết tinh cũng giống như thế. Nhìn dưới kính hiển vi, chắc chắn [mỗi hoa tuyết hay hình dạng kết tinh của nước] chẳng giống nhau, chúng ta hiểu rõ đạo lý này. Ai thấy tất cả hết thảy kết tinh đều tương đồng? Kinh Đại Thừa nói “Phật Phật đạo đồng”. Chúng ta hãy nghĩ xem: Sau khi thành Phật, một phẩm sanh tướng vô minh tối hậu đã đoạn sạch rồi; nói cách khác, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước chẳng còn mảy may gì xen tạp, chư Phật thấy hết thảy hiện tượng trong vũ trụ nhất định tương đồng. Thập Địa Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát thấy hết thảy cảnh giới hết sức giống nhau, hết sức gần gũi, nhưng xem kỹ vẫn chẳng tương đồng, huống chi lục đạo phàm phu! Đương nhiên [phàm phu thấy các cảnh giới] chẳng tương đồng! Mỗi một người chúng ta thấy nước kết tinh cũng chẳng tương đồng, vì sao? Tiền niệm khác với hậu niệm. Đức Phật này giống hệt đức Phật kia vì các Ngài đều chẳng có ý niệm, cách thấy của các Ngài hoàn toàn tương đồng, trong mỗi niệm các Ngài thấy tương đồng.

      Quý vị nhất định phải biết tất cả hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều sanh diệt trong từng sát-na. Đấy là Thật Tướng! Bất sanh bất diệt chỉ là Tánh, tự tánh bất sanh bất diệt. Tánh là gì? Ở đây, Trung Phong đại sư nói tới “linh tri”, tức là Ngài nói đến tâm. Theo Ngài, tâm có ba thứ:

1) Một là “nhục đoàn tâm” (trái tim thịt), tất cả hết thảy chúng sanh đều có.

2) Hai  là  “duyên lự tâm”, tức  là  tâm  vọng  tưởng  phân  biệt, vọng

tưởng, phân biệt, chấp trước, là vọng  tâm. Ai  nấy  đều  có, chẳng  giống

nhau.

3) “Linh tri tâm” giống nhau. Linh tri tâm là chân tâm, chân tâm bất sanh bất diệt.

“Linh, tri”: Kinh Lăng Nghiêm nói hơi tỉ mỉ hơn một chút, kinh dùng bốn chữ “kiến, văn, giác, tri” (thấy, nghe, hay, biết), Trung Phong thiền sư gộp “kiến, văn, giác” thành một chữ Linh. Linh Tri là chân tâm, hư không pháp giới do nó biến hiện; bởi thế, hư không pháp giới đương nhiên đầy đủ “kiến, văn, giác, tri”. Tâm là năng biến (chủ thể thực hiện hành động biến hiện), vạn pháp là sở biến (cái được biến hiện bởi tâm). Cổ nhân nói: “Dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (Dùng vàng chế đồ vật, món nào cũng là vàng). Vàng là bản chất, có món vật nào lại chẳng mang đặc tánh của vàng? Đương nhiên là có, món nào cũng có đủ [đặc tánh ấy], chắc chắn chẳng khiếm khuyết mảy may. Từ tỷ dụ này, chúng ta suy ra: Tất cả hết thảy vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều có linh tri.

Hiện tại, tôi có liên lạc với tiến sĩ Giang Bổn Thắng, ông ta cũng rất hoan nghênh tôi đến Nhật Bản tham quan phòng thí nghiệm của ông. Ông ta cũng muốn hiểu rõ cảnh giới Hoa Nghiêm. Tôi yêu cầu ông ta làm thật nhiều thí nghiệm để tìm hiểu sâu hơn “tất cả hết thảy vạn vật trong vũ trụ đều có linh tri”. Tất cả hết thảy vạn vật đều là sống, chẳng có thứ nào chết cả, thứ nào cũng có đủ “kiến, văn, giác, tri”. Chúng ta muốn cuộc sống của chính mình tốt đẹp, hoàn cảnh tốt đẹp, chẳng phải là không làm được, mà thực sự là chẳng dễ thực hiện. Thực hiện bằng cách nào? Thiện ý, thiện tâm thì tất cả cảnh giới đều biến thành tốt, núi sông đại địa đều sung mãn linh khí. Vì sao có tai nạn? Vì tâm chẳng lành. Trong tâm đầy ắp tự tư tự lợi, đầy ắp tham, sân, si, mạn, khởi tâm động niệm tổn người lợi mình, khiến cho phản ứng của tất cả hết thảy vạn vật thảy đều biến thành xấu xa. Phản ứng tốt đẹp là mô thức kết cấu tươi đẹp, dưới kính hiển vi, quý vị sẽ thấy được [điều này]. Tâm tình bất hảo, ý niệm bất hảo, phản ứng sẽ rất khó coi!

Do vậy, thế giới Cực Lạc là tâm thanh tịnh của chính mình, do thiện ý, mỹ ý biến hiện ra. Thế giới Sa Bà của chúng ta là do tâm nhiễm ô, do ác ý, ác niệm biến hiện ra. Bản thân hết thảy vạn vật vốn chẳng có ý niệm, chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chỉ là có linh tri, chứ không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Hữu tình chúng sanh có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; vô tình chúng sanh bị chuyển theo ý nghĩ của quý vị. Do vậy, kinh thường nói “cảnh tùy tâm chuyển” (cảnh chuyển theo tâm). Đó là một nguyên lý, nguyên tắc căn bản, phải tin tưởng sâu xa, chớ nên nghi ngờ! Từ nơi đâu để thực hiện [chuyển cảnh theo tâm]? Từ thiện ý, từ nơi ý niệm của quý vị mà thực hiện, sửa đổi toàn bộ hết thảy ý niệm ác và tư tưởng ác, đổi thành thiện ý, đổi thành mỹ ý thì thế giới này trở thành tốt đẹp, thành thiện mỹ, thành “liên trì hải hội”.

Chữ “Phật Bồ Tát” chẳng cần phải giải thích nữa. Do vậy, quý vị hãy nghĩ xem: Câu này bao gồm những nghĩa lý rộng sâu vô tận, dù chúng tôi ngày ngày giảng nói, giảng suốt cả trăm năm cũng chẳng giảng hết. Hôm nay hết giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi.

 

Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Ký
中峰三時繫念法事全集講記
Chủ giảng: Lão pháp sư Thích Tịnh Không 
Giảng tại: Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Nam Mô A Di Đà Phật!