Gương vãng sanh

[Gương Vãng Sanh]: Thích Tuệ Viễn Niệm Phật Thấy Phật A Di Đà 4 Lần, Biết Trước Ngày Giờ Vãng Sanh.


   

Sư họ Cổ, người ở Lâu Phiền thuộc Nhạn Môn. Thuở nhỏ theo cậu du học ở Hứa Lạc, làu thông kinh sử, lại giỏi Lão Trang. Năm hai mươi mốt tuổi muốn đi qua Giang Đông định theo học với Phạm Tuyên Tử, nhưng đường Nam bị nghẽn nên chí không thành. Lúc đó Đạo An ở Thái Hành hoằng đạo nổi tiếng. Viễn nghe liền đến thấy mặt rất kính trọng. Sau nghe Sư An giảng kinh Bát-nhã bỗng được khai ngộ liền bảo: Cửu luận khác của chín dòng đều là vỏ trấu. Rồi cùng mẹ và em là Tuệ Trì đều quy phục. Sư có dáng vẻ nghiêm túc tài giỏi nên Đạo An thường khen “Người làm cho giáo pháp truyền bá ở Đông Độ chính là viễn”. Năm hai mươi bốn tuổi, Sư giảng kinh ở chùa Đại Thiện có khách hỏi về nghĩa thật tướng, bàn cãi qua lại càng nhiều nghi ngờ, viễn dẫn Lão Trang giải thích, khách bèn hiểu. Từ đó An cho phép Viễn không bỏ ngoại điển. Trong niên hiệu Kiến Nguyên có giặc loạn, Đạo An bị Chu Tự bắt giam, đồ chúng tứ tán. Viễn và Tuệ Trì cùng mấy mươi người đều đến Kinh Châu. 

Ít lâu sau muốn về Nam đến La Phù, ra Tầm Dương thì thấy Lô Sơn cao vót yên tĩnh có thể dừng chân. Nhưng chỗ ở cách xa nước, viễn bèn dộng gậy xuống đất bảo: Nếu nơi này ở được thì khiến rã mục thành suối. Nói xong thì suối phun lên. Sau Tầm Dương bị hạn, Viễn ở bên suối đọc Kinh Long Vương thì bỗng có con rắn lớn từ nước bay lên hư không, phút chốc có mưa lớn, do đó gọi là Long Tuyền (Suối Rồng). Lúc đó Sa-môn Tuệ Vĩnh ở Tây Lâm muốn Viễn cùng ở, lại thẹn vì chỗ ở chật hẹp không đủ chứa. Bèn bảo Thứ Sử Hoàn Y, Y bèn lập Đông Lâm để ở. Thuở xưa Đào Khản trấn giữ Quảng Châu, có ngư dân vớt được tượng do Vua A-Dục tạo ra. Tượng này rất kinh lạ, Khản đưa tượng về chùa Hàn Khê ở Võ Xương, chùa cháy nhưng tượng vẫn còn nguyên. Sau Khản đi trấn giữ quận khác sai Sứ đón về nhưng không được. Khi Viễn cất chùa xong cầu nguyện thì tượng tự nhiên đến. Do đó biết Viễn tu chứng nên cảm được điềm lành. Ân Trọng Kham đi Kinh Châu đến Lô Sơn luận đạo với Sư chẳng biết mệt mỏi. Kham nói sự hiểu biết của Sư sâu sáng khó địch nổi. 

Tư Đồ Vương Mật, Hộ quân Vương Mặc đều khâm phục Phong Đức của Sư, Mật có thư rằng tuổi chưa bốn mươi mà ai đồng nhĩ thuận há chẳng buồn cho sự rơi rụng ư? Sư đáp: Người xưa không trọng thước ngọc mà chỉ quý tấc bóng, cái còn lại không do năm dài. Vua Tống Võ đuổi giặc Lư Tuần, các quan tâu Viễn Công trước có giao du mật thiết với Tuần. Tống Võ bảo Viễn là người tiêu biểu cho đời không có kia đây. Do đó sai sứ đem thư tiền gạo đến tặng. Chúa nhà Tần là Diêu Hưng rất trọng tài đức của Sư, đưa bản Luận Đại Trí mới dịch nhờ Sư đề tựa nhưng viết thư nói rõ rằng: Luận này do Long soạn ra, lại là chỉ quy của Phương Đẳng, không có Đại sĩ, ai có thể viết cho lời tựa? Hoàn Huyên phạt tội Trọng Kham đến dưới chân núi, mời Viễn đến Hổ Khê Viễn từ chối. Huyền tự vào núi, người chung quanh Kham rất kính trọng Viễn, xin Ngài chớ trọng. Huyền bảo Trọng Kham sống như người chết nhác! Nhưng khi gặp Viễn thì Huyền kính sợ, các nghi nan đều không dám. 

Lại hỏi việc đánh dẹp thì Viễn không đáp. 

Huyền gạn hỏi thì đáp việc quân binh chưa học Huyền bảo giờ đang nguyện điều gì? 

Nguyện cho Đàn-việt được an ổn họ cũng chẳng khác. Huyền xuống núi bảo người chung quanh rằng người này xưa nay chưa gặp. Sau Huyền dùng oai chủ soái ra lịnh cho Sa-môn phải lạy vua. Thượng thư lệnh Hà Sung Phác, Tạ Chữ Tường v.v… tấu luận khiến môn hạ vâng chỉ, đang bàn bạc lăng xăng chưa định thì Viễn Công làm luận năm Thiên Sa-môn không lạy Vua dâng lên Huyền, bèn thôi. Khi Huyền thua chạy về Tây, An Đế từ Giang Lăng về Kinh đô. Quan Phụ Quốc Hà Vô Kỵ khuyên Viễn đón Vua thì ông từ bệnh không đi. Vua gửi thư ủy lạo, Viễn đáp tạ. Trần Lưu, Tạ Linh Vận ỷ tài kiêu ngạo nhưng gặp Sư thì rất tâm phục. Viễn công trong thông Phật Giáo, ngoài giỏi sách Nho ở Lô Sơn ba mươi năm không hề xuống núi. Bành Thành có Lưu Di Dân, Dự Chương có Lôi Thứ Tông, Nhạn Môn có Chu Tục Chi… đều kính trọng, Nam Dương có Tông Bính, Thanh Hà có Trương Giả đều bỏ đời mà nương Viễn sư. Viễn cùng Di Dân và tăng tục gồm một trăm hai mươi ba người kết làm Tịnh Xã, trước tượng Di-đà cùng thề đến An Dưỡng. Bèn khiến Di Dân soạn văn khắc đá. Lúc đó đời gọi là Liên Xã, Viễn rất trọng việc hoằng Pháp. Mỗi khi nghe Tăng Đồ từ Tây Vức đến thì ân cần hỏi han Đạo 

Vị. Sa-môn nước Kế-Tân là Tăng già-nan-đề trong niên hiệu Thái Nguyên đến ở Tầm Dương, Viễn Công thỉnh dịch lại Bộ A-tỳ-đàm Tâm và Luận Tam Pháp Độ. Về già nghe ngài La-thập đến Quan Trung bèn đốt hương xa tưởng và viết thư thăm hỏi. La-thập cũng nghe tiếng Sư đã lâu, bèn viết thư giao hảo. Lại gởi cho năm bài kệ. Từ đó Nam Bắc ngàn dậm thư từ thăm hỏi không dứt – tháng tám. Vào niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ mười hai từ ngày 1 đến ngày 6 Sư bị bệnh, các bậc cao tuổi thỉnh Sư uống rượu đậu. Sư bảo: Uống rượu trị bệnh văn luật không cho, thỉnh Sư uống nước cháo thì Sư bảo đã quá Ngọ. Lại thỉnh Sư uống mật thì Sư bảo mở luật tìm văn, chưa được nửa quyển thì Sư mất, thọ tám mươi ba tuổi. Đạo Tục đưa tiễn như mây đùn. Thái Thú Tầm Dương là Nguyễn Bảo cùng đệ tử là Pháp Tịnh v.v. đào đất ở Sơn Tây mà chôn Sư. Tạ Linh Vận, Tông Bính một thời nổi tiếng là Hiền, trụy điệu Sư đặt bài Minh ghi đức. 

Tăng Tuệ Giảo đời Lương cách Sư hơn trăm năm biết việc đã viết Truyện nói rằng: 

Xét về Biệt Truyện, Viễn Công đối với Tịnh-độ chuyên tu siêng niệm. Xưa ở Lô Sơn mười một năm lắng tâm buộc tưởng, ba lần thấy Phật mà im lặng không nói, mười chín năm sau, chiều tháng , Viễn Công ở Khám Đông bên đài Bát-nhã, từ Định ra thì thấy thân Phật Di-đà đầy khắp hư không, trong viên quang có các Hóa Phật, lại thấy Quán Âm Thế Chí đứng hầu hai bên. Lại thấy dòng nước sáng chia thành mười bốn nhánh mỗi nhánh nước phun trên dưới, tự giảng nói Khổ Không, Vô thườngVô ngã. Phật bảo Viễn rằng: Ta vì bổn nguyện lực đến an ủi ông, bảy ngày sau ông sẽ vãng sinh về nước Ta. Lại thấy Phật đà-da-xá cùng Tuệ Trì, Đàm Thuận ở bên Phật chào Viễn nói: Pháp sư trước chúng tôi sao đến chậm thế? Viễn thấy rõ ràng và sáng suốt không rối loạn. Rồi nói đủ các việc thấy nghe cho đệ tử Pháp Tịnh, Tuệ Bảo v.v… nghe. Nhân đó bảo Tịnh rằng trước đây mười một năm ta đối Tịnh-độ ba lần thấy Phật, nay lại thấy thì ta chắc chắn được sinh Tịnh-độ. Ngày hôm sau Sư bị bệnh, lại nói với Tịnh rằng chỉ trong bảy ngày là chậm. Các ông phải cố gắng chớ để tình thế gian trói cột. Đến hẹn thì mất.

Nam Mô A Di Đà Phật!
TỊNH ĐỘ VÃNG SANH TRUYỆN
Sa Môn Giới Châu ở Phi Sơn, thuộc Phước Đường đời Tống soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản